Quán triệt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào giảng dạy môn Kinh tế phát triển ở Học viện Lục quân
Quán triệt mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030 trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào giảng dạy môn Kinh tế phát triển là yêu cầu, nhiệm vụ chính trị quan trọng, nhằm cập nhật các chỉ tiêu, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026 - 2030: “tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt khoảng 10%/năm trở lên; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 đạt khoảng 8.500 USD; tỷ trọng kinh tế số chiếm 30% GDP; đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng đạt trên 55%; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 28%” [1]. Đặc biệt, lần đầu tiên, Đại hội đưa ra các chỉ tiêu về chỉ số hạnh phúc, phấn đấu đưa Việt Nam vào nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất thế giới; chỉ số phát triển con người (HDI) phấn đấu đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh tối thiểu 68 năm.

Quán triệt các mục tiêu trên vào giảng dạy môn Kinh tế phát triển có ý nghĩa quan trọng, để đội ngũ cán bộ cấp chiến thuật, chiến dịch nắm vững đường lối, mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới. Việc thực hiện thực hiện thắng lợi các mục tiêu này là vô cùng to lớn. Thành công đó không chỉ là minh chứng hùng hồn cho vai trò lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khẳng định tính ưu việt của con đường phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn là cơ sở vững chắc để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, hoài nghi của các thếlực thù địch. Để triển khai hiệu quả và sâu sắc, quá trình giảng dạy được cụ thể hóa theo các định hướng chiến lược trọng tâm sau:
Một là, trong giảng dạy môn Kinh tế phát triển cần làm rõ cơ sở để Đảng ta xác định các mục tiêu trên.
Các mục tiêu phát triển được xác định dựa trên quan điểm phát triển nhanh và bền vững - một tư tưởng xuyên suốt trong đường lối đổi mới của Đảng. Phát triển nhanh đòi hỏi phải có những bước đột phá về tốc độ tăng trưởng, tạo nền tảng vững chắc để rút ngắn khoảng cách phát triển so với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Phát triển bền vững đặt trọng tâm vào chất lượng tăng trưởng, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, bảo vệ môi trường sinh thái.
Sự tiếp nối lôgic của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế sâu rộng. Trải qua 40 năm đổi mới, Việt Nam đã chuyển từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Giai đoạn 2026 - 2030 là thời điểm bứt phá để hoàn thành cơ bản mục tiêu trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030.
Các mục tiêu mang tính nhân văn sâu sắc, phản ánh bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa, lấy con người làm trung tâm. Việc đề ra các chỉ tiêu về HDI, chỉ số hạnh phúc, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ hộ nghèo đa chiều… cho thấy Đảng ta đặt con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển. Tăng trưởng kinh tế không phải là cứu cánh cuối cùng, mà là phương tiện để nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.
Thành tựu giai đoạn 2021 - 2025 tạo nền tảng vững chắc cho giai đoạn phát triển mới.
Những thành tựu to lớn, toàn diện đạt được trong giai đoạn 2021 - 2025 là cơ sở thực tiễn quan trọng nhất để đặt ra các mục tiêu cao cho giai đoạn tới. Về tăng trưởng kinh tế, GDP năm 2025 ước tính tăng 8,02% so với năm trước, thuộc nhóm các nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân đầu người năm 2025 đạt khoảng 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024, đưa Việt Nam vào nhóm các nước có thu nhập trung bình cao. Quy mô nền kinh tế tăng từ 346 tỷ USD năm 2020 lên khoảng 514 tỷ USD năm 2025, tăng 5 bậc, lên vị trí thứ 32 thế giới [2]. Về phát triển xã hội, các chỉ tiêu về xã hội, an sinh xã hội đều đạt và vượt. Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 ước đạt 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024. Năng suất lao động theo giá hiện hành ước đạt 245,0 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024 [3].
Kinh nghiệm quốc tế - bài học quý giá cho phát triển.
Kinh nghiệm phát triển của các quốc gia trong khu vực và trên thế giới là những bài học quý giá. Hàn Quốc trong giai đoạn công nghiệp hóa những năm 1960 - 1980 đã duy trì tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trên 8%/năm, thậm chí có năm đạt trên 10%. Trung Quốc trong thời kỳ cải cách mở cửa (1978 - 2010) đã đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 9,5%/năm. Việt Nam trong những năm đầu đổi mới (1991 - 1995) đã đạt mức tăng trưởng GDP bình quân 8,2%/năm.
Điểm chung của các quốc gia thành công là có chiến lược phát triển đúng đắn, thể chế phù hợp, tận dụng tốt lợi thế so sánh, đầu tư mạnh vào giáo dục và khoa học - công nghệ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Việt Nam đang hội tụ đầy đủ các yếu tố đó, đặc biệt là lợi thế của thời kỳ “dân số vàng”, vị trí địa chính trị thuận lợi, quan trọng nhất là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng.
Hai là, trong giảng dạy môn Kinh tế phát triển cần làm rõ tính khả thi của các chỉ tiêu trọng tâm.
Chỉ tiêu GDP tăng trưởng bình quân khoảng 10%/năm trở lên.
Đây là chỉ tiêu tham vọng, đòi hỏi những động lực tăng trưởng mới mạnh mẽ hơn, nhưng hoàn toàn có cơ sở thực hiện. Đầu tư công vẫn là động lực tăng trưởng nằm trong “tầm tay” của Chính phủ. Theo kế hoạch đầu tư công trung hạn đã được Quốc hội thông qua, kế hoạch đầu tư công năm 2026 dự kiến tăng 10,3% so với năm 2025. Quy mô tuyệt đối của đầu tư công tương đương gần 8% GDP - một tỷ lệ hiếm thấy và ở mức rất cao. Động lực này không chỉ giới hạn trong năm 2026 mà có thể kéo dài xuyên suốt cả nhiệm kỳ tới, cho đến năm 2030 [4]. Xuất khẩu là động lực mạnh mẽ. Dù gặp nhiều thách thức do điều kiện then chốt là xuất khẩu sang Hoa Kỳ không bị sụt giảm mạnh, đồng thời các thị trường khác vẫn giữ được đà tăng trưởng như năm 2025, Việt Nam có cơ hội mở rộng xuất khẩu sang Trung Quốc, đưa hàng hóa thâm nhập sâu hơn vào thị trường này. Đây là cơ sở để duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang Trung Quốc ở mức 14 -15%/năm, thậm chí cao hơn [5]. Tiêu dùng trong nước cũng là một cú huých rất lớn cho tăng trưởng; về mặt tích cực, có hai yếu tố quan trọng có thể giúp cải thiện niềm tin người tiêu dùng: tăng trưởng việc làm và thu nhập của tầng lớp trung lưu tăng lên; giá bất động sản đi lên tạo hiệu ứng tâm lý đáng kể, khuyến khích chi tiêu nhiều hơn.
Chỉ tiêu năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp trên 55%, năng suất lao động tăng 8,5%.
Hai chỉ tiêu này phản ánh chất lượng tăng trưởng. Để đạt được, chúng ta phải dựa vào cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số quốc gia, phát triển kinh tế số, xã hội số. Theo đánh giá của Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), Việt Nam có cơ hội lớn tận dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để thúc đẩy phát triển con người. Báo cáo Phát triển Con người năm 2025 của UNDP chỉ ra rằng, với chính sách phù hợp và sự tập trung vào con người, AI có thể trở thành cầu nối đến với tri thức, kỹ năng và ý tưởng mới - giúp trao quyền cho mọi người, từ người nông dân đến các chủ doanh nghiệp nhỏ [6].
Đổi mới sáng tạo phải trở thành động lực then chốt. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo hành lang pháp lý và chính sách thuận lợi cho phát triển. Điều này đòi hỏi một hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo mạnh mẽ, các trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D) tầm cỡ, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, nhân lực cho các ngành công nghệ mới như AI, bán dẫn, dữ liệu lớn.
Chỉ tiêu tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo đạt khoảng 28% GDP.
Đây là kết quả của chiến lược thu hút FDI có chọn lọc, hướng vào các tập đoàn đa quốc gia, các dự án công nghệ cao, thân thiện với môi trường. Kinh nghiệm cho thấy, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo Việt Nam đã đạt mức tăng 9,97% trong năm 2025, tiếp tục khẳng định vai trò động lực tăng trưởng chính. Với đà tăng trưởng này, cùng với việc triển khai các dự án FDI thế hệ mới trong lĩnh vực công nghệ cao, bán dẫn, sản xuất thông minh, mục tiêu 28% là hoàn toàn khả thi [7].
Các chỉ tiêu xã hội (HDI, hạnh phúc, giảm nghèo).
Theo báo cáo của UNDP, chỉ số HDI của Việt Nam năm 2023 đạt 0,766 - xếp Việt Nam vào nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao, đứng thứ 93 trên tổng số 193 quốc gia và vùng lãnh thổ. Từ năm 1990 đến 2023, chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng từ 0,499 lên 0,766 - tăng 53,5%, một bước tiến ấn tượng [8]. Với mục tiêu phấn đấu đạt HDI khoảng 0,8 vào năm 2030, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện các chỉ số về y tế, giáo dục và thu nhập.
Ba là, trong giảng dạy môn Kinh tế phát triển cần làm rõ điều kiện hiện có để biến mục tiêu thành hiện thực.
Để biến những mục tiêu trên giấy thành hiện thực sinh động, Việt Nam đang hội tụ đầy đủ những điều kiện tiên quyết: chính trị, tư tưởng; kinh tế - xã hội; khoa học - công nghệ và hội nhập quốc tế.
Về chính trị, tư tưởng: đây là điều kiện quan trọng nhất, giữ vai trò kim chỉ nam. Sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt, sáng suốt và uy tín cao của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định mọi thắng lợi. Hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở được củng cố vững mạnh, ngày càng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đại hội XIV đã thể hiện sự đột phá về tư duy, tầm nhìn và hành động, đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo, quản trị và kiến tạo phát triển, chủ động nắm bắt, tận dụng thời cơ, tạo tiền đề vững chắc cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Niềm tin tuyệt đối của Nhân dân đối với Đảng, sự đồng thuận xã hội cao là nguồn sức mạnh vô tận.
Điều kiện kinh tế - xã hội: nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam đã được củng cố vững chắc qua nhiều năm. Lạm phát được kiểm soát dưới 4%, các cân đối lớn (ngân sách, đầu tư công, nợ công) được bảo đảm. Dư địa chính sách tài khóa và tiền tệ còn tương đối lớn, cho phép chúng ta có những điều chỉnh linh hoạt để ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài và hỗ trợ tăng trưởng. Nguồn lực cho đầu tư phát triển rất dồi dào. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021 - 2025 đạt khoảng 33,2% GDP, đáp ứng mục tiêu 32 - 34%. Vốn đầu tư công đạt khoảng 3,4 triệu tỷ đồng, tăng gần 55% so với nhiệm kỳ trước. Lợi thế về dân số vàng với cơ cấu dân số trẻ, lực lượng lao động dồi dào, có khả năng tiếp thu khoa học kỹ thuật. Đi kèm với đó là thị trường tiêu dùng nội địa hơn 100 triệu dân đang gia tăng nhanh chóng về quy mô và chất lượng với tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng, tạo ra sức hấp dẫn lớn đối với các nhà đầu tư và là “bệ đỡ” vững chắc cho sản xuất trong nước.
Điều kiện khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo: Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư mở ra cơ hội lớn cho các nước đi sau như Việt Nam có thể bứt phá, rút ngắn khoảng cách phát triển. Đảng và Nhà nước đã xác định chuyển đổi số là một khâu đột phá. Nghị quyết số 57 - NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đã tạo hành lang pháp lý quan trọng. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đang được triển khai quyết liệt, tạo nền móng cho phát triển kinh tế số, xã hội số, công dân số.
Điều kiện hội nhập quốc tế: Việt Nam đã tham gia một mạng lưới các Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) thế hệ mới: CPTPP, EVFTA, UKVFTA... Đây là những “đường cao tốc” kết nối nền kinh tế Việt Nam với các thị trường lớn nhất thế giới, mở rộng không gian phát triển, thu hút đầu tư và công nghệ. Các tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao kết quả chỉ đạo, điều hành, nâng hạng tín nhiệm và triển vọng tăng trưởng của Việt Nam. IMF đánh giá Việt Nam nằm trong top 10 nước tăng trưởng cao nhất thế giới; Standard Chartered dự báo Việt Nam thuộc nhóm 5 nước tăng trưởng nhanh nhất châu Á.
Quán triệt các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng vào giảng dạy môn Kinh tế phát triển ở Học viện là trách nhiệm của đội ngũ giảng viên, cập nhật kịp thời những bước tiến mới trong tư duy, đột phá thể chế và khoa học công nghệ của Đảng vào bài giảng, tránh tình trạng lý thuyết xa rời thực tiễn. Trang bị tư duy kinh tế vĩ mô sắc bén cho học viên; giúp người học nắm vững đường lối, chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước, nâng cao năng lực tham mưu, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với củng cố quốc phòng - an ninh; thấu suốt tầm nhìn đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên vươn mình, với các chỉ tiêu trọng tâm: tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên; học viên sau khi ra trường biết phân tích sâu sắc các chính sách phát triển vùng, biên giới, hải đảo, từ đó vận dụng vào công tác tham mưu xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân vững chắc; rèn luyện năng lực tư duy độc lập, phương pháp luận nghiên cứu và giải quyết các bài toán kinh tế - xã hội cụ thể ở từng địa phương, đơn vị. Đồng thời, giúp học viên thấy được trách nhiệm của mình trong thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng tạo môi trường hòa bình, ổn định để thực hiện các mục tiêu trên, góp phần xây dựng một Việt Nam hùng cường, thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như Chủ tịch Hồ Chí Minh hằng mong muốn./.
Tài liệu tham khảo
[1] Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb CTQGST, Hà Nội, tr.84 - 85.
[2]. Đảng Cộng Sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, tập 1, Nxb CTQGST, Hà Nội, tr.47.
[3,7]. Báo điện tử Chính phủ, xây dựng chính sách, pháp luật, báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025.
[4,5]. Theleader, diễn đàn của các nhà quản trị, tăng trưởng kinh tế 2026 -2030 hai con số: Đại kế hoạch khả thi.
[6,8]. Việt Nam duy trì mức Phát triển Con người cao: Báo cáo của UNDP.





