Quán triệt mục tiêu tăng trưởng kinh tế “2 con số” giai đoạn 2026 - 2030 vào giảng dạy học phần kinh tế phát triển cho học viên đào tạo cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Lục quân hiện nay
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng ta khẳng định: “Đất nước ta đã thực sự bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Để thực hiện hóa hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước, một trong những điểm nhấn mang tính đột phá và đầy khát vọng tại Đại hội chính là mục tiêu: Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên. Do đó việc quán triệt mục tiêu này vào giảng dạy tại các học viện, nhà trường cho các đối tượng nói chung và tại Học viện Lục quân cho đối tượng đào tạo Cao cấp lý luận chính trị (CCLLCT) nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, đây không chỉ là yêu cầu về mặt kiến thức mà còn là nhiệm vụ chính trị cấp bách để thống nhất nhận thức và hành động trong toàn quân.
1. Cơ sở để Đảng ta xác định mục tiêu tăng trưởng “2 con số”
Mục tiêu tăng trưởng GDP không phải là một con số cảm tính mà dựa trên những tính toán khoa học và quyết tâm chính trị cao độ, xác định mục tiêu tăng trưởng “2 con số” trong giai đoạn 2026 - 2030 của Việt Nam dựa trên các cơ sở sau:
Một là, xuất phát từ yêu cầu phát triển để vượt qua “bẫy thu nhập trung bình”.
Để đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao (GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD), tốc độ tăng trưởng hiện tại (khoảng 6 - 7%) là chưa đủ. Các mô hình kinh tế phát triển chỉ ra rằng, để bứt phá, một quốc gia cần có những giai đoạn “tăng trưởng thần kỳ” với tốc độ cao và kéo dài liên tục. Đảng ta đã thẳng thắn chỉ ra những tồn tại đó là “Mô hình tăng trưởng chưa dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo”. “Mục tiêu trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 không hoàn thành; tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025 không đạt mục tiêu chiến lược đề ra (mục tiêu đặt ra 6,5 - 7%/năm), tốc độ có xu hướng giảm dần theo chu kỳ 10 năm; tăng trưởng năng suất trên đà giảm xuống, nợ công, thâm hụt ngân sách nhà nước cao, kéo dài. Doanh nghiệp trong nước 95 - 96% là doanh nghiệp nhỏ, trình độ công nghệ thấp”. Những điều đó đặt ra thách thức rất lớn với việc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng nhằm vượt “bẫy thu nhập trung bình”.

Nguồn: Cục Thống kê, Bộ Tài chính
Thực tiễn trên thế giới đã chứng minh, có nhiều quốc gia, nền kinh tế đã vượt được “bẫy thu nhập trung bình” và để vươn mình trở thành nước phát triển họ đều có giai đoạn tăng trưởng cao, trong thời gian dài. Theo số liệu Ngân hàng Thế giới (WB), từ năm 1960 đến nay, có 41 nền kinh tế đã thoát khỏi “bẫy thu nhập trung bình” để trở thành quốc gia có mức thu nhập cao, điển hình: Nhật Bản, trong suốt hơn hai thập kỷ (1951 - 1973), tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đạt khoảng 11%/năm, Nhật Bản đã vượt qua Tây Đức để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới (sau Mỹ). Đối với Trung Quốc, để vượt qua Nhật Bản vươn lên trở thành nền kinh tế thứ 2 thế giới, giai đoạn 1978 - 2011, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân đạt xấp xỉ 10%/năm liên tục trong hơn 30 năm. Ngoài ra còn các quốc gia, nền kinh tế trong nhóm con rồng Châu Á như: Hàn Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan.
Hai là, xuất phát từ bối cảnh mới trong “Kỷ nguyên mới” của dân tộc.
Trên thế giới: Hoà bình, hợp tác và phát triển vẫn là xu thế lớn, nhưng sẽ đứng trước nhiều trở ngại, thách thức. Sự phát triển mạnh mẽ của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với những đột phá trong trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và tự động hoá mở ra cơ hội lớn cần nắm bắt để phát triển bứt phá. Cuộc cách mạng này tạo ra sản phẩm và dịch vụ mới có chất lượng với chi phí thấp hơn, giúp nền kinh tế hiệu quả, thông minh và sử dụng nguồn lực tiết kiệm hơn, tạo công nghệ bảo vệ môi trường trong phát triển. Chuyển đổi số, chuyển đổi xanh... và các liên kết kinh tế mới ngày càng được chú trọng, trở thành xu thế chủ đạo, quyết định năng lực cạnh tranh và phát triển bền vững của các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đến năm 2030, 2045.
Trong nước: Độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc và lợi ích quốc gia - dân tộc sẽ tiếp tục được bảo vệ vững chắc, chế độ XHCN được giữ vững; gắn kết chặt chẽ, hài hoà giữa phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh; thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân sẽ tiếp tục được củng cố, tăng cường vững chắc. Hợp tác quốc phòng, an ninh sẽ tiếp tục được mở rộng. Đây là yếu tố quan trọng hàng đầu giúp Việt Nam có điều kiện thuận lợi chuyển đổi và thực hiện thành công mô hình tăng trưởng kinh tế mới. Việt Nam đang có lợi thế cơ cấu dân số “vàng” và sự gia tăng của tầng lớp trung lưu. Bên cạnh đó, những quyết sách có tính cách mạng về tinh gọn tổ chức bộ máy, hệ thống chính trị; đổi mới, xây dựng và thi hành pháp luật; phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; phát triển kinh tế tư nhân; kinh tế nhà nước, hội nhập quốc tế, v.v... tạo cơ hội lịch sử cho sự phát triển mạnh mẽ của đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Quán triệt mục tiêu tăng trưởng vào giảng dạy học phần Kinh tế phát triển cho đối tượng học viên đào tạo cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Lục quân
Trong chương trình đào tạo CCLLCT tại Học viện Lục quân, khi biên soạn bài giảng học phần Kinh tế phát triển, người giảng viên cần quán triệt, cập nhật những chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, cụ thể như sau:
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, Đảng ta xác định: “Xác lập mô hình tăng trưởng mới với mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế ...”
Mục tiêu cụ thể, giai đoạn 2026 - 2030: “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong nước (GDP) bình quân cho giai đoạn 2026 - 2030 từ 10%/năm trở lên”; tại Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”. Đảng ta đề ra quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, các nghị quyết, kết luận của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư để phấn đấu đạt mục tiêu “Phát triển nhanh, bền vững đất nước; phấn đấu tăng trưởng GDP bình quân đạt từ 10%/năm trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân...”.
Như vậy, mục tiêu tăng trưởng “2 con số” này không chỉ nằm ở tốc tăng trưởng kinh tế đơn thuần, con số GDP hay thu nhập bình quân đầu người, mà còn ở việc khẳng định vị thế dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ chiến lược và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Đây là sự tiếp nối logic của hành trình “độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” trong điều kiện mới. Quan trọng hơn, mục tiêu này thể hiện khát vọng phát triển mạnh mẽ của dân tộc Việt Nam - khát vọng vươn lên sánh vai với các cường quốc năm châu.
Như vậy, khi giảng về mục tiêu này, giảng viên cần làm rõ sự đổi mới tư duy của Đảng trong việc xác định mô hình tăng trưởng kinh tế trong kỷ nguyên mới, đó là sự chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng (dựa vào tài nguyên, lao động giá rẻ) sang mô hình tăng trưởng theo chiều sâu dựa trên động lực chính là: khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; các mô hình kinh tế mới và các dự án trọng điểm, quy mô lớn như: Kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, các vùng động lực, cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, đặc khu kinh tế, đặc khu công nghệ, khu thương mại tự do, trung tâm tài chính quốc tế, trung tâm dữ liệu quốc gia; đường sắt tốc độ cao, đường sắt đô thị Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh, điện hạt nhân, điện mặt trời, điện gió ngoài khơi...
Học viên đào tạo cao cấp lý luận chính trị tại Học viện Lục quân là những người đã có trải nghiệm thực tiễn phong phú, do đó khi biên soạn và thực hành giảng bài học phần Kinh tế phát triển, đặc biệt bài “mô hình tăng trưởng và đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế”, giảng viên cần phải thực hiện tốt một số vấn đề sau:
Một là, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát huy tư duy phản biện, tư duy lý luận, khả năng tự học, tự nghiên cứu của học viên. Thay vì áp đặt, một chiều, cần áp dụng các phương pháp dạy học tích cực như thuyết trình có minh họa, grap dạy học, nêu vấn đề, học tập nhóm, lớp học đảo chiều … gắn những đường lối, chủ trương, mục tiêu của Đảng, chính sách của Nhà nước với thực tiễn quân sự - quốc phòng và từng địa phương. Khuyến khích học viên liên hệ với kinh nghiệm đơn vị trong thực hiện các nhiệm vụ tham gia phát triển kinh tế - xã hội.

Hội thảo khoa học “Ứng dụng công nghệ số vào nâng cao chất lượng giảng dạy ở Khoa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh hiện nay”





