Quán triệt, vận dụng Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 vào giảng dạy môn Kinh tế phát triển ở Học viện Lục quân
Ngày 28/7/2026 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Nghị quyết xác định những định hướng lớn, có tính chiến lược đối với quá trình phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Quán triệt, vận dụng Nghị quyết vào giảng dạy môn Kinh tế phát triển ở Học viện Lục quân có ý nghĩa quan trọng.
Những nội dung chủ yếu của Nghị quyết số 19-NQ/TW cần quán triệt trong giảng dạy môn Kinh tế phát triển
Đổi mới mô hình phát triển Việt Nam là yêu cầu chiến lược trong giai đoạn mới. Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định đổi mới mô hình phát triển Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, nhằm tạo động lực mới cho phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nghị quyết được ban hành trên cơ sở đánh giá những thành tựu quan trọng của 40 năm đổi mới, chỉ ra những hạn chế của mô hình phát triển hiện hành và những yêu cầu mới đặt ra từ sự biến đổi nhanh chóng của tình hình thế giới. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tạo “bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển đất nước”, hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Điểm cốt lõi của quan điểm này là đổi mới mô hình phát triển không chỉ đơn thuần điều chỉnh cơ cấu ngành hay thay đổi một số chính sách kinh tế, mà là đổi mới tổng thể phương thức huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực, tạo lập các động lực tăng trưởng mới và nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế.

Xây dựng mô hình phát triển tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập. Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định rõ đặc trưng của mô hình phát triển mới là “tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập”. Đây là nội dung có tính định hướng xuyên suốt, thể hiện sự phát triển trong tư duy về mô hình phát triển Việt Nam. “Tự cường” nhấn mạnh năng lực nội sinh, khả năng chủ động và sức chống chịu của nền kinh tế; “sáng tạo” đề cao tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; “nhân văn” đặt con người và chất lượng cuộc sống ở vị trí trung tâm; “bền vững” yêu cầu hài hòa giữa phát triển kinh tế, xã hội và bảo vệ môi trường; còn “hội nhập” thể hiện yêu cầu chủ động tham gia sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và toàn cầu. Nghị quyết xác định đến năm 2035 phải “hoàn thành cơ bản quá trình chuyển sang Mô hình phát triển Việt Nam tự cường, sáng tạo, nhân văn, bền vững và hội nhập” [1, tr.3]. Như vậy, mô hình phát triển mới không đặt một mục tiêu đơn nhất là tăng trưởng nhanh, mà hướng tới sự kết hợp giữa tốc độ và chất lượng, giữa phát triển nội lực và hội nhập, giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
Lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu và động lực của phát triển. Một nội dung quan trọng của Nghị quyết số 19-NQ/TW là xác lập vị trí trung tâm của con người trong mô hình phát triển mới. Nghị quyết nhấn mạnh quan điểm “lấy con người làm chủ thể trung tâm, mục tiêu, động lực và phát triển” [2, tr.2], qua đó khẳng định phát triển kinh tế phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và chất lượng cuộc sống của nhân dân. Con người không chỉ là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển mà còn là chủ thể sáng tạo, trực tiếp tạo ra và sử dụng các nguồn lực phát triển. Nghị quyết đặt yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với phát triển con người, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội, nâng cao chất lượng dân số, giáo dục, đào tạo và nguồn nhân lực. Con người có tri thức, kỹ năng, sức khỏe, khả năng sáng tạo và thích ứng trở thành một bộ phận quan trọng của năng lực phát triển quốc gia.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực mới của phát triển. Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ở vị trí quan trọng trong quá trình đổi mới mô hình phát triển. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu phát huy “khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo quốc gia là động lực chính” [3, tr.2], gắn với quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng và nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của nền kinh tế. Nội dung này phản ánh sự thay đổi căn bản về các động lực của phát triển trong điều kiện lực lượng sản xuất hiện đại. Nếu vốn, lao động và tài nguyên vẫn là những nguồn lực quan trọng, thì tri thức, công nghệ, dữ liệu, năng lực đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng giữ vai trò quyết định đối với năng suất và năng lực cạnh tranh. Nghị quyết hướng tới hình thành nền kinh tế dựa nhiều hơn vào tri thức, công nghệ và sáng tạo; phát triển những lĩnh vực mới, công nghệ mới và phương thức sản xuất mới. Chuyển đổi số không chỉ được nhìn nhận ở phạm vi ứng dụng công nghệ thông tin mà gắn với thay đổi phương thức quản trị, tổ chức sản xuất, kinh doanh và cung cấp dịch vụ.
Đổi mới thể chế và quản trị, chuyển từ quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển. Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh đổi mới thể chế và phương thức quản trị là điều kiện quan trọng để giải phóng và phát huy các nguồn lực phát triển. Một trong những định hướng đáng chú ý là “chuyển từ tư duy quản lý, kiểm soát sang kiến tạo, dẫn dắt phát triển” [4, tr.3]. Quan điểm này thể hiện yêu cầu thay đổi phương thức Nhà nước tác động vào nền kinh tế, từ thiên về quản lý hành chính sang xây dựng thể chế, tạo lập môi trường thuận lợi, định hướng chiến lược và thúc đẩy các chủ thể phát huy năng lực. Theo đó, thể chế phải tạo điều kiện để các nguồn lực xã hội được huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả; khuyến khích đầu tư, sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo và phát triển các mô hình kinh tế mới. Cùng với đổi mới thể chế là đổi mới quản trị quốc gia theo hướng hiện đại, hiệu lực, hiệu quả, minh bạch và thích ứng với yêu cầu phát triển. Mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội cần được xử lý hài hòa, trong đó Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và dẫn dắt, thị trường phát huy vai trò phân bổ nguồn lực theo các tín hiệu kinh tế, còn xã hội và các chủ thể kinh tế tham gia ngày càng chủ động vào quá trình phát triển.
Phát triển nhanh, bền vững gắn với chuyển đổi xanh và bảo vệ môi trường. Nghị quyết số 19-NQ/TW xác định phát triển bền vững là một đặc trưng quan trọng của mô hình phát triển mới. Quan điểm này đặt yêu cầu kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến đổi của môi trường phát triển. Nghị quyết hướng tới “Xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh” [5, tr.7]. Cốt lõi của định hướng này là thay đổi phương thức tạo ra tăng trưởng. Tăng trưởng không thể tiếp tục dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên, sử dụng nhiều lao động giản đơn hoặc gia tăng đầu vào mà phải dựa ngày càng nhiều vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn lực. Phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn, sử dụng năng lượng hiệu quả và giảm tác động tiêu cực đến môi trường trở thành những yêu cầu gắn với chất lượng của mô hình phát triển.
Phát huy nội lực, nâng cao năng lực tự chủ, khả năng thích ứng và sức chống chịu. Nghị quyết số 19-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu “bảo đảm tự chủ chiến lược quốc gia, nâng cao khả năng chống chịu của các vùng, các cực tăng trưởng, các trung tâm kinh tế và chuỗi cung ứng quan trọng” [6, tr.7]. Đây là yêu cầu xuất phát từ bối cảnh kinh tế thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược, đứt gãy chuỗi cung ứng và những thách thức mới tác động ngày càng trực tiếp đến các nền kinh tế. Vì vậy, mô hình phát triển mới phải bảo đảm sự kết hợp giữa phát huy nội lực với chủ động hội nhập và khai thác hiệu quả nguồn lực bên ngoài. “Tự chủ” trong Nghị quyết không đồng nghĩa với khép kín hay tách khỏi kinh tế thế giới. Tự chủ được đặt trong quan hệ với hội nhập, tức là phải xây dựng năng lực nội sinh đủ mạnh để chủ động tham gia, thích ứng và hưởng lợi từ quá trình hội nhập quốc tế. Điều đó đòi hỏi nâng cao năng lực sản xuất trong nước, phát triển doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực, kết cấu hạ tầng và năng lực quản trị; nâng cao khả năng dự báo, ứng phó và phục hồi trước các cú sốc. Nghị quyết hướng tới một mô hình phát triển có “năng lực thích ứng” và sức chống chịu cao, qua đó bảo đảm tính liên tục và ổn định của quá trình phát triển.
Tổ chức lại không gian phát triển, phát huy lợi thế vùng và tăng cường liên kết. Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt vấn đề tổ chức lại không gian phát triển nhằm khai thác hiệu quả hơn tiềm năng, lợi thế của các vùng và địa phương, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trên phạm vi quốc gia. Đây là một nội dung gắn với yêu cầu đổi mới mô hình phát triển theo hướng phát huy các cực tăng trưởng, tăng cường liên kết và tạo sức lan tỏa giữa các khu vực. Các phân tích sau khi Nghị quyết được ban hành cũng xác định yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển quốc gia theo hướng “đa tầng, đa cực, liên kết đồng bộ” [7, tr.7]. Về bản chất, tổ chức không gian phát triển không chỉ là sự phân bố các hoạt động kinh tế theo địa bàn mà còn là quá trình hình thành các vùng động lực, hành lang kinh tế, cực tăng trưởng và mạng lưới liên kết sản xuất, thị trường, hạ tầng và nguồn lực. Phát triển từng vùng phải được đặt trong tổng thể phát triển quốc gia, trên cơ sở phát huy lợi thế riêng, đồng thời khắc phục tình trạng phát triển phân tán, thiếu liên kết hoặc cạnh tranh nguồn lực không hiệu quả. Cách tiếp cận này hướng tới nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, tăng khả năng lan tỏa của các trung tâm phát triển, thu hẹp khoảng cách giữa các vùng và tạo lập những không gian tăng trưởng mới.
Gắn phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 19-NQ/TW đặt đổi mới mô hình phát triển trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Phát triển kinh tế phải gắn với củng cố quốc phòng, an ninh, mở rộng đối ngoại và nâng cao vị thế quốc gia. Định hướng dài hạn của Nghị quyết hướng tới một Việt Nam có “vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh” [8, tr.5], qua đó cho thấy phát triển kinh tế được đặt trong quan hệ chặt chẽ với sức mạnh tổng hợp quốc gia. Quan điểm này thể hiện nhận thức thống nhất về mối quan hệ giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới. Một nền kinh tế phát triển tạo ra nguồn lực vật chất, khoa học - công nghệ và tiềm lực cho quốc phòng, an ninh; ngược lại, môi trường hòa bình, ổn định và năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh là điều kiện quan trọng để phát triển kinh tế. Hội nhập quốc tế vì vậy phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ, sức cạnh tranh và vị thế quốc gia. Đặc biệt, quá trình phát triển các ngành kinh tế, kết cấu hạ tầng, không gian kinh tế, khoa học - công nghệ và nguồn nhân lực cần được đặt trong tổng thể sức mạnh quốc gia.
Một số yêu cầu vận dụng Nghị quyết số 19-NQ/TW vào giảng dạy môn Kinh tế phát triển ở Học viện Lục quân
Một là, cập nhật nội dung bài giảng theo những vấn đề mới của mô hình phát triển Việt Nam. Trọng tâm không chỉ là đưa các mục tiêu, quan điểm của Nghị quyết vào phần liên hệ mà phải làm rõ cơ sở kinh tế của việc đổi mới mô hình phát triển hiện nay; những hạn chế của mô hình tăng trưởng cũ; động lực mới của tăng trưởng và các yêu cầu đối với quá trình chuyển đổi. Các bài giảng về mô hình tằng trưởng kinh tế, cơ cấu kinh tế, nguồn lực phát triển, tiến bộ và công bằng xã hội, phát triển bền vững,… cần được bổ sung những vấn đề như năng suất, kinh tế số, chuyển đổi xanh, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao, khả năng tự chủ và sức chống chịu của nền kinh tế. Cách cập nhật này giúp môn Kinh tế phát triển không bị tách khỏi những biến đổi nhanh chóng của thực tiễn mà trở thành không gian để học viên phân tích những vấn đề phát triển đang đặt ra đối với Việt Nam.
Hai là, gắn nội dung Nghị quyết với đặc điểm đào tạo cán bộ chỉ huy tham mưu cấp chiến thuật, chiến dịch ở Học viện Lục quân. Vận dụng Nghị quyết vào giảng dạy cần bảo đảm tính đặc thù của địa phương, vùng kinh tế. Mỗi nội dung kinh tế phải được đặt trong mối quan hệ với xây dựng và củng cố tiềm lực quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc và xây dựng khu vực phòng thủ. Chẳng hạn, khi giảng về phát triển kết cấu hạ tầng có thể phân tích đồng thời giá trị kinh tế và giá trị quốc phòng của các tuyến giao thông chiến lược; khi giảng về phát triển vùng có thể liên hệ với bố trí lực lượng, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân; khi phân tích kinh tế biển có thể làm rõ mối quan hệ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ chủ quyền; khi giảng về nghiên cứu khoa học - công nghệ và chuyển đổi số có thể mở rộng sang công nghệ lưỡng dụng, công nghiệp quốc phòng và bảo đảm an ninh dữ liệu. Qua đó, học viên không chỉ hiểu kinh tế phát triển như một lĩnh vực tri thức chuyên ngành, mà còn hình thành khả năng nhìn nhận phát triển kinh tế trong tổng thể sức mạnh quốc gia.
Ba là, đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng phát triển năng lực phân tích và vận dụng. Tinh thần của Nghị quyết cần được chuyển hóa thành phương pháp học tập chủ động, phân tích vấn đề và giải quyết tình huống. Giảng viên nên giảm cách truyền đạt thuần túy theo kiểu truyền thụ nội dung mà tăng cường phương pháp nêu vấn đề, đảo chiều, nêu tình huống, phân tích số liệu và tranh luận khoa học. Có thể xây dựng các tình huống như: lựa chọn mô hình tăng trưởng cho một địa phương; đánh giá tác động của chuyển đổi số đối với năng suất; xử lý quan hệ giữa tăng trưởng nhanh và bảo vệ môi trường; lựa chọn phương án phát triển hạ tầng vừa tạo hiệu quả kinh tế vừa đáp ứng yêu cầu quốc phòng; hoặc phân tích tác động của một dự án phát triển vùng đối với thế trận quốc phòng toàn dân… Với mỗi tình huống, học viên được yêu cầu xác định vấn đề, phân tích các yếu tố tác động, đánh giá các phương án và đề xuất cách xử lý. Qua đó, nội dung, quan điểm, mục tiêu của Nghị quyết được chuyển hóa thành năng lực tư duy kinh tế và năng lực vận dụng vào thực tiễn lãnh đạo, chỉ huy.
Bốn là, tăng cường liên hệ thực tiễn địa phương, vùng và nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Một yêu cầu quan trọng là đưa thực tiễn phát triển của các địa phương, vùng kinh tế và địa bàn chiến lược vào bài giảng. Với đặc điểm đào tạo của Học viện, có thể ưu tiên những địa bàn có vị trí quan trọng về kinh tế - quốc phòng như vùng kinh tế Tây Nguyên, Tây Bắc, Đông Nam Bộ. Những vấn đề về phát triển kết cấu hạ tầng, logistics, công nghiệp, nông nghiệp, kinh tế cửa khẩu, kinh tế biển, đô thị hóa, giảm nghèo và tổ chức không gian dân cư có thể được sử dụng như những trường hợp nghiên cứu. Cách tiếp cận này giúp học viên nhận thức sâu hơn nội dung các quyết định phát triển kinh tế ở từng địa bàn không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mà còn tác động đến dân cư, nguồn lực, kết cấu hạ tầng, khả năng cơ động và tiềm lực quốc phòng. Đây là điều kiện để hình thành tư duy đánh giá tổng hợp, phù hợp với yêu cầu công tác của cán bộ quân sự trong môi trường tác chiến và quản lý địa bàn ngày càng phức tạp.
Năm là, nâng cao năng lực của đội ngũ giảng viên trong quán triệt và vận dụng Nghị quyết. Chất lượng quán triệt, vận dụng Nghị quyết phụ thuộc trực tiếp vào trình độ lý luận, năng lực cập nhật thực tiễn và phương pháp sư phạm của giảng viên. Vì vậy, đội ngũ giảng viên giảng dạy môn Kinh tế phát triển ở Học viện cần chủ động nghiên cứu toàn văn Nghị quyết số 19-NQ/TW, các chương trình, kế hoạch triển khai và những văn bản liên quan; thường xuyên cập nhật số liệu kinh tế - xã hội, chính sách phát triển và những vấn đề mới của kinh tế Việt Nam. Cần tránh hai khuynh hướng: chính trị hóa đơn thuần nội dung kinh tế hoặc ngược lại kinh tế hóa, tách rời nội dung kinh tế khỏi quan điểm, định hướng phát triển của Đảng. Vận dụng hiệu quả đòi hỏi giảng viên phải kết hợp chặt chẽ giữa lý luận kinh tế, quan điểm phát triển của Đảng và thực tiễn Việt Nam; từ đó xây dựng các bài giảng có căn cứ khoa học, tính thời sự và khả năng giải thích thực tiễn cao.





