Đồng chí Lê Đức Thọ - từ thực tiễn cách mạng đến những giá trị bền vững trong đào tạo cán bộ
Ngày 10/10/1911, đồng chí Lê Đức Thọ, tên thật Phan Đình Khải, ra đời tại làng Địch Lễ, huyện Mỹ Lộc, tỉnh Nam Định (nay thuộc Phường Hồng Quang, tỉnh Ninh Bình). Từ khi còn trẻ, đồng chí đã sớm tham gia phong trào yêu nước, được kết nạp vào Đông Dương Cộng sản Đảng năm 1929. Trải qua những năm tháng hoạt động cách mạng trong điều kiện bí mật, nhiều lần bị bắt, tù đày; rồi trực tiếp lãnh đạo cách mạng ở Nam Bộ, đảm nhiệm công tác tổ chức - cán bộ, tham gia đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris và chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, đồng chí Lê Đức Thọ đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc. Những đóng góp trên nhiều lĩnh vực đã khẳng định đồng chí là một trong những nhà lãnh đạo tiền bối tiêu biểu, có dấu ấn sâu sắc trong những chặng đường quan trọng của cách mạng Việt Nam.
Điều làm nên tầm vóc của đồng chí Lê Đức Thọ không chỉ ở những trọng trách được Đảng giao, mà còn ở khả năng trưởng thành và hoàn thành nhiệm vụ trong những hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Từ hoạt động cách mạng bí mật, những năm tháng tù đày đến lãnh đạo phong trào ở chiến trường Nam Bộ, từ công tác xây dựng Đảng đến đấu tranh ngoại giao và chỉ đạo chiến dịch, mỗi chặng đường đều là một lần thử thách bản lĩnh, trí tuệ và trách nhiệm của người cán bộ cách mạng. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đồng chí được Trung ương phân công tham gia chỉ đạo cách mạng miền Nam, góp phần hoạch định chủ trương và tổ chức chi viện cho chiến trường. Năm 1968, đồng chí được giao trực tiếp tham gia cuộc đấu tranh ngoại giao tại Hội nghị Paris. Trải qua gần 5 năm đàm phán với nhiều cuộc tiếp xúc công khai và riêng, đồng chí cùng đoàn đàm phán Việt Nam kiên trì bảo vệ những nguyên tắc và lợi ích cốt lõi của dân tộc, góp phần quan trọng vào thắng lợi của Hiệp định Paris năm 1973.
Dấu ấn của đồng chí tại Hội nghị Paris cho thấy rõ một phẩm chất nổi bật của người cán bộ lãnh đạo, đó là kiên định về mục tiêu, nguyên tắc nhưng linh hoạt, sắc bén trong phương pháp và xử lý tình huống. Trong những cuộc đấu trí phức tạp, đồng chí không tách rời đấu tranh ngoại giao với tương quan chính trị, quân sự; biết kết hợp các mặt trận để tạo sức mạnh tổng hợp, kiên trì mục tiêu chiến lược nhưng linh hoạt trong từng bước đi. Đó không chỉ là kinh nghiệm ngoại giao mà còn là bài học về phương pháp tư duy, năng lực xử lý thực tiễn của người cán bộ trước những vấn đề phức tạp. Sau Hiệp định Paris, đồng chí tiếp tục được giao những nhiệm vụ quan trọng. Mùa Xuân năm 1975, đồng chí được Bộ Chính trị cử vào miền Nam, cùng các đồng chí lãnh đạo trực tiếp chỉ đạo Chiến dịch Hồ Chí Minh, góp phần vào thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Nhìn lại hành trình ấy, có thể thấy ở đồng chí một sự thống nhất cao giữa bản lĩnh chính trị, tinh thần trách nhiệm và năng lực tổ chức thực tiễn: khi Đảng giao nhiệm vụ, dù ở lĩnh vực nào, địa bàn nào, trong hoàn cảnh nào, đồng chí đều tận tâm thực hiện và đặt lợi ích của cách mạng, của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết.
Dấu ấn sâu đậm trong công tác tổ chức, cán bộ
Nếu những đóng góp trên chiến trường và tại Hội nghị Paris thể hiện tầm vóc của đồng chí Lê Đức Thọ trong lãnh đạo cách mạng, thì công tác tổ chức, cán bộ lại là lĩnh vực gắn bó sâu sắc với phần lớn cuộc đời hoạt động của đồng chí. Trên cương vị Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, đồng chí trực tiếp tham gia chỉ đạo nhiều nhiệm vụ quan trọng về xây dựng Đảng, chuẩn bị nhân sự và xây dựng đội ngũ cán bộ. Từ thực tiễn đó, đồng chí để lại nhiều kinh nghiệm có giá trị về phát hiện, đào tạo, đánh giá, bố trí và sử dụng cán bộ. Một điểm nổi bật trong tư duy của đồng chí là đào tạo cán bộ phải gắn với yêu cầu nhiệm vụ và gắn với bố trí, sử dụng cán bộ. Trước Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khi phụ trách Xứ ủy Bắc Kỳ, đồng chí đã quyết định mở lớp quân chính đào tạo cán bộ quân sự cho toàn Xứ ủy. Trong thời gian hoạt động ở Nam Bộ, đồng chí đề nghị mở các trường đào tạo cán bộ ở nhiều cấp độ, góp phần tạo nguồn cán bộ cho chiến trường. Năm 1954, đồng chí quan tâm đưa con em cán bộ miền Nam ra Bắc học tập, chuẩn bị nguồn nhân lực cho sự nghiệp cách mạng lâu dài. Những việc làm ấy cho thấy tầm nhìn không chỉ giải quyết yêu cầu cán bộ trước mắt mà còn chủ động chuẩn bị đội ngũ cho tương lai.
Đồng chí đặc biệt coi trọng đánh giá đúng cán bộ. Theo quan điểm được tổng kết từ thực tiễn công tác của đồng chí, muốn bố trí, sử dụng đúng phải hiểu cán bộ; muốn hiểu cán bộ phải đi sâu, đi sát, theo dõi cả quá trình hoạt động và kết quả thực hiện nhiệm vụ. Đánh giá cán bộ phải khách quan, toàn diện, xem xét phẩm chất, năng lực, đạo đức, quá trình công tác; không thể chỉ dựa vào hồ sơ, chức vụ hay một vài biểu hiện nhất thời. Đồng chí đồng thời yêu cầu cán bộ làm công tác tổ chức phải trung thực, công tâm, khách quan, sâu sát, có phương pháp tư duy khoa học và không để tình cảm, thành kiến cá nhân chi phối. Đây là những vấn đề có ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi công tác tổ chức - cán bộ của một thời kỳ. Bởi suy cho cùng, chất lượng cán bộ quyết định chất lượng thực hiện nhiệm vụ của tổ chức; còn đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chỉ thực sự có giá trị khi hướng tới hình thành phẩm chất, năng lực đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Những giá trị thiết thực đối với đào tạo cán bộ ở Học viện Lục quân
Từ cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Lê Đức Thọ có thể nhận thấy một quy luật quan trọng, đó là người cán bộ trưởng thành từ sự kết hợp giữa giáo dục, đào tạo, tự rèn luyện và thực tiễn công tác. Nhà trường tạo nền tảng về tri thức, phương pháp và bản lĩnh; thực tiễn tiếp tục thử thách, bổ sung và hoàn thiện những phẩm chất, năng lực ấy.
Đối với Học viện Lục quân, là trung tâm đào tạo cán bộ chỉ huy, tham mưu cấp chiến dịch, chiến thuật của Quân đội nhân dân Việt Nam, bài học này càng có ý nghĩa thiết thực. Mục tiêu của đào tạo không chỉ dừng ở việc trang bị kiến thức, mà phải hướng tới hình thành người cán bộ có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tư duy khoa học, năng lực tổ chức thực tiễn, tinh thần trách nhiệm và khả năng xử trí hiệu quả những vấn đề đặt ra trong thực tiễn đơn vị.
Trước hết, đó là giáo dục nâng cao bản lĩnh. Bản lĩnh của người cán bộ không chỉ thể hiện ở sự kiên định về chính trị, mà còn ở khả năng giữ vững nguyên tắc trước khó khăn, bình tĩnh trước tình huống phức tạp, không dao động trước sức ép và có khả năng lựa chọn cách thức xử lý phù hợp. Từ những năm tháng hoạt động cách mạng gian khổ đến những cuộc đấu trí tại Paris, đồng chí Lê Đức Thọ cho thấy sự thống nhất giữa kiên định và linh hoạt, giữa bản lĩnh chính trị với trí tuệ thực tiễn. Đây là phẩm chất đặc biệt cần thiết đối với cán bộ chỉ huy, tham mưu trong môi trường quân sự.
Thứ hai, đó là bồi dưỡng tinh thần trách nhiệm. Cuộc đời đồng chí Lê Đức Thọ gắn với những nhiệm vụ khó khăn, phức tạp và thường xuyên ở những thời điểm có ý nghĩa quyết định. Giá trị của người cán bộ không nằm ở chức vụ được giao, mà trước hết ở trách nhiệm đối với nhiệm vụ, ở khả năng biến quyết tâm thành hành động và kết quả thực tế. Đối với người cán bộ Quân đội, trách nhiệm càng phải được thể hiện bằng sự tận tụy, chủ động, dám nhận nhiệm vụ, dám chịu trách nhiệm và đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
Thứ ba, đó là bồi dưỡng năng lực thực tiễn và phương pháp tư duy khoa học. Từ kinh nghiệm công tác cán bộ của đồng chí Lê Đức Thọ có thể thấy, muốn đánh giá đúng một con người phải đặt họ trong thực tiễn; muốn giải quyết đúng một vấn đề cũng phải bắt đầu từ việc nắm chắc thực tiễn. Vì vậy, đào tạo cán bộ ở Học viện không thể chỉ chú trọng truyền thụ kiến thức mà phải rèn luyện phương pháp phân tích, đánh giá tình hình, khả năng dự báo, xây dựng quyết tâm, tổ chức lực lượng và xử trí tình huống. Người học phải từng bước hình thành năng lực biến kiến thức thành quyết định, biến quyết định thành tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện.
Từ đó, mối quan hệ giữa đào tạo - rèn luyện - sử dụng - đánh giá cán bộ cần được nhìn nhận như một quá trình liên tục. Nhà trường phải xuất phát từ yêu cầu chức trách, nhiệm vụ của người cán bộ ở đơn vị để xác định nội dung, phương pháp đào tạo; đồng thời thực tiễn đơn vị phải trở thành cơ sở quan trọng để bổ sung, hoàn thiện chương trình và phương pháp giáo dục, đào tạo. Đó cũng là cách để chất lượng đào tạo thực sự được kiểm nghiệm bằng khả năng hoàn thành nhiệm vụ của cán bộ sau khi trở về đơn vị.
Một tấm gương, một giá trị bền vững
Đồng chí Lê Đức Thọ từ trần ngày 13/10/1990, sau 79 năm tuổi đời, 64 năm hoạt động cách mạng. Cuộc đời đồng chí gắn với nhiều bước ngoặt quan trọng của cách mạng Việt Nam và để lại dấu ấn trên nhiều lĩnh vực: xây dựng Đảng, công tác tổ chức - cán bộ, lãnh đạo cách mạng miền Nam, đấu tranh ngoại giao và chỉ đạo cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Những giá trị đó không chỉ nằm ở những cương vị hay sự kiện lịch sử. Đó còn là phương pháp trưởng thành của người cán bộ cách mạng: trưởng thành trong học tập và rèn luyện; được tôi luyện qua thực tiễn; được thử thách bằng những nhiệm vụ khó khăn; lấy trách nhiệm và kết quả công tác làm thước đo; luôn đặt lợi ích chung lên trên lợi ích cá nhân.
Đối với Học viện Lục quân, kỷ niệm ngày sinh đồng chí Lê Đức Thọ là dịp ôn lại cuộc đời và những cống hiến của một nhà lãnh đạo tiền bối, đồng thời nhận thức sâu sắc hơn yêu cầu đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong tình hình mới. Đào tạo cán bộ phải gắn tri thức với bản lĩnh, bản lĩnh với trách nhiệm, lý luận với thực tiễn; phải coi trọng cả năng lực tư duy và năng lực hành động, cả kết quả học tập và quá trình tự rèn luyện. Từ tấm gương đồng chí Lê Đức Thọ, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên Học viện Lục quân càng có cơ sở để nhận thức sâu sắc rằng: bản lĩnh không tự nhiên mà có; năng lực không chỉ hình thành từ sách vở; trách nhiệm không thể dừng ở lời nói. Tất cả phải được bồi đắp bằng học tập, rèn luyện, bằng những trải nghiệm thực tiễn và bằng sự tận tâm với nhiệm vụ. Đó cũng chính là những giá trị bền vững mà cuộc đời hoạt động cách mạng của đồng chí Lê Đức Thọ để lại đối với sự nghiệp xây dựng đội ngũ cán bộ hôm nay./.
N.H.L
Tác giả: CTD. Nguyễn Hải Long