Hiệp định Pari 1973 - thắng lợi của bản lĩnh, trí tuệ Việt Nam và bài học vận dụng ở Học viện Lục quân
Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết ngày 27/01/1973 là một mốc son chói lọi trong lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc ta. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng, kết tinh cao độ bản lĩnh, trí tuệ và ý chí kiên cường của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Không chỉ mang giá trị lịch sử to lớn, Hiệp định Pari còn để lại nhiều bài học sâu sắc về tư duy chiến lược, nghệ thuật kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, có ý nghĩa thiết thực đối với công tác giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học quân sự ở Học viện Lục quân hiện nay.

Hiệp định Pari là kết quả của một quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, phức tạp và quyết liệt trên cả ba mặt trận: quân sự, chính trị và ngoại giao. Trong suốt quá trình đó, Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh chính trị vững vàng, đường lối chiến lược đúng đắn và tư duy sắc bén trong chỉ đạo cách mạng. Trên mặt trận quân sự, quân và dân ta đã giành nhiều thắng lợi to lớn, đặc biệt là các chiến thắng có ý nghĩa chiến lược, làm thay đổi tương quan lực lượng, buộc Mỹ phải xuống thang chiến tranh và chấp nhận đàm phán. Trên mặt trận chính trị, phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân trong nước và phong trào phản chiến của nhân dân tiến bộ trên thế giới đã tạo sức ép mạnh mẽ đối với chính quyền Mỹ. Trên mặt trận ngoại giao, Việt Nam đã kiên trì, khôn khéo, mềm dẻo nhưng kiên quyết bảo vệ những nguyên tắc cơ bản, giữ vững lập trường độc lập, tự chủ, vì lợi ích tối cao của dân tộc.
Thắng lợi của Hiệp định Pari trước hết là thắng lợi của bản lĩnh Việt Nam. Đó là bản lĩnh của một dân tộc nhỏ nhưng có ý chí quật cường, không khuất phục trước sức mạnh quân sự vượt trội của đối phương; bản lĩnh của một Đảng cầm quyền kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; bản lĩnh của một quân đội cách mạng tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân. Trong suốt quá trình đàm phán, Việt Nam luôn giữ vững nguyên tắc cơ bản, không nhân nhượng những vấn đề cốt lõi liên quan đến chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ, đồng thời biết tận dụng thời cơ, khai thác mâu thuẫn trong nội bộ đối phương để giành thắng lợi từng bước, tiến tới thắng lợi quyết định.
Cùng với bản lĩnh chính trị, Hiệp định Pari còn là thắng lợi của trí tuệ Việt Nam. Đó là trí tuệ trong việc xác định đúng đắn đường lối chiến tranh nhân dân, kết hợp chặt chẽ giữa đánh và đàm; trí tuệ trong nghệ thuật chỉ đạo chiến tranh, biết tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ, chuyển hóa so sánh lực lượng có lợi cho ta; trí tuệ trong đấu tranh ngoại giao, biết “vừa cứng rắn về nguyên tắc, vừa linh hoạt về sách lược”. Sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao đã tạo nên sức mạnh tổng hợp, buộc Mỹ phải ký kết Hiệp định Pari, rút quân về nước, tạo điều kiện quyết định để tiến tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Những giá trị lịch sử và bài học từ Hiệp định Pari không chỉ thuộc về quá khứ mà còn có ý nghĩa sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, các hình thức chiến tranh, xung đột ngày càng đa dạng, việc nghiên cứu, vận dụng những bài học về bản lĩnh, trí tuệ và nghệ thuật kết hợp các hình thức đấu tranh từ Hiệp định Pari có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với Quân đội nhân dân Việt Nam nói chung và Học viện Lục quân nói riêng.
Là trung tâm giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học quân sự hàng đầu của Quân đội nhân dân Việt Nam, Học viện Lục quân có trách nhiệm quan trọng trong việc nghiên cứu, giảng dạy và vận dụng các bài học lịch sử quân sự, trong đó có bài học từ Hiệp định Pari 1973. Trước hết, bài học về bản lĩnh chính trị cần được quán triệt sâu sắc trong giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Cán bộ quân đội được đào tạo tại Học viện không chỉ cần giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ quân sự mà còn phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, kiên định mục tiêu, lý tưởng, tuyệt đối trung thành với Đảng, Tổ quốc và Nhân dân; biết giữ vững nguyên tắc trong những tình huống phức tạp, đồng thời linh hoạt, sáng tạo trong xử trí các vấn đề cụ thể của thực tiễn.

Bài học về trí tuệ và tư duy chiến lược từ Hiệp định Pari cũng có giá trị đặc biệt trong nghiên cứu, giảng dạy nghệ thuật quân sự tại Học viện Lục quân. Việc phân tích sâu sắc mối quan hệ giữa chiến trường và bàn đàm phán, giữa tạo thế, tạo lực và tạo thời cơ, giữa thắng lợi từng bước và thắng lợi quyết định giúp học viên hình thành tư duy quân sự toàn diện, biện chứng, biết nhìn nhận vấn đề trong tổng thể chiến lược chung. Đây là cơ sở quan trọng để đào tạo đội ngũ cán bộ có khả năng tham mưu, chỉ huy trong những tình huống phức tạp, đa dạng của chiến tranh hiện đại.
Bên cạnh đó, Hiệp định Pari còn cung cấp những bài học quý báu về nghệ thuật kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, về phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Những bài học này cần được Học viện Lục quân vận dụng sáng tạo trong giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng tầm nhìn chiến lược và năng lực hội nhập quốc tế cho đội ngũ cán bộ quân đội trong điều kiện mới.
Việc vận dụng bài học từ Hiệp định Pari ở Học viện Lục quân không chỉ dừng lại ở nội dung giảng dạy lý luận, mà còn được thể hiện trong phương pháp giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học. Học viện cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu khoa học quân sự theo hướng gắn lý luận với thực tiễn, kết hợp nghiên cứu lịch sử quân sự với nghiên cứu các hình thức chiến tranh, xung đột hiện đại; qua đó làm rõ giá trị bền vững và khả năng vận dụng sáng tạo các bài học lịch sử trong điều kiện mới.
Nhìn lại thắng lợi của Hiệp định Pari 1973 có thể khẳng định đây là kết tinh rực rỡ của bản lĩnh, trí tuệ và ý chí Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Những giá trị và bài học từ sự kiện lịch sử này tiếp tục có ý nghĩa thời sự sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đối với Học viện Lục quân, việc nghiên cứu, vận dụng các bài học từ Hiệp định Pari không chỉ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo và nghiên cứu khoa học, mà còn trực tiếp góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội có bản lĩnh chính trị vững vàng, tư duy chiến lược sắc bén, đáp ứng yêu cầu xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới./.
N.H.L





