• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 129
Tháng 03 : 34.831
Tháng trước : 26.027
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khoa Pháo binh vận dụng bài học kinh nghiệm về sử dụng pháo binh trong Chiến dịch Tây Nguyên vào giảng dạy cho học viên chuyên ngành pháo binh

Chiến dịch Tây Nguyên là chiến dịch mở đầu cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975. Lực lượng tham gia chiến dịch gồm 5 sư đoàn (10, 320, 316, 3, 968) và 4 trung đoàn bộ binh, 1 trung đoàn và 2 tiểu đoàn đặc công, 2 trung đoàn pháo binh, 1 trung đoàn tăng thiết giáp, 3 trung đoàn pháo phòng không... cùng lực lượng vũ trang địa phương các tỉnh Đắc Lắc, Gia Lai, Kon Tum. Lực lượng địch thuộc Quân đoàn 2, Quân khu 2 và lực lượng tăng cường (Sư đoàn bộ binh 23, 7 tiểu đoàn biệt động quân, 36 tiểu đoàn bảo an, 1 lữ đoàn tăng thiết giáp, 230 khẩu pháo, 1 sư đoàn không quân).

Chiến dịch chia làm 3 đợt: Đợt 1, nghi binh tạo thế: Ngay từ tháng 01/1975, Bộ Tư lệnh chiến dịch đã chỉ đạo các đơn vị súng cối địa phương đánh vào La Sơn, Thanh An; pháo Đ74 bắn vào các căn cứ Non Nước, bãi Ủi, Đồn Tam, Chốt Mỹ, sân bay Cù Hanh, Sở chỉ huy các trung đoàn 23, 6, 9 của địch. Pháo binh Sư đoàn bộ binh 10, Sư đoàn bộ binh 3, Trung đoàn bộ binh 95A chi viện cho bộ binh tiêu diệt căn cứ Adun, cắt đường 14 ở Ea H’leo, chiếm Đường 19 ở đèo Thượng An, cắt đứt Đường 21 ở Tây Khánh Dương; đánh chiếm quận lỵ Thuần Mẫn, Đức Lập; Trung đoàn pháo binh 675 bí mật cơ động xuống Nam Buôn Ma Thuột nhưng vẫn để lại điện đài và duy trì liên lạc bình thường; huy động các lực lượng làm đường, xây dựng công sự trận địa để lừa địch. Với kế hoạch nghi binh hoàn hảo của chiến dịch, trước giờ “G” Buôn Ma Thuột hoàn toàn bị cô lập với đồng bằng ven biển miền Trung và Nam Trung bộ (trừ Đường số 7), nhưng địch vẫn phán đoán ta sẽ đánh Kon Tum, do vậy không tăng cường lực lượng cho Buôn Ma Thuột. Đợt 2, thực hiện các trận then chốt: Đúng 02.00 ngày 10/3 ta bắt đầu thực hiện trận then chốt mở đầu (tiến công thị xã Buôn Ma Thuột), sử dụng 119 khẩu pháo các loại tập trung chế áp sở chỉ huy Sư đoàn 23, khu kho Mai Hắc Đế, tiểu khu Đắk Lắk, khu thiết giáp của địch; đến 11.00 ngày 11/3 Sư đoàn bộ binh 316 làm chủ thị xã. Tiếp đó các cụm pháo binh đã cơ động sang phía Đông chi viện cho Sư đoàn bộ binh 10 đập tan cuộc phản kích của Sư đoàn 23 địch ở Nông Trại - Chư Cúc, thực hiện thắng lợi trận then chốt 2. Sau khi kế hoạch tái chiếm Buôn Ma Thuột bị thất bại thảm hại, toàn bộ lực lượng còn lại của Quân đoàn 2 ở Kon Tum và Pleiku tháo chạy về Tuy Hòa theo Đường số 7, đồng thời đưa Lữ dù 3 lên án ngữ Đường 21. Các đơn vị pháo binh tiếp tục cơ động chi viện kịp thời cho Sư đoàn 320 truy kích địch trên Đường số 7, Sư đoàn 10 tiêu diệt địch trên đường 21, Sư đoàn 968 đánh chiếm Kon Tum, Pleiku, ngày 22/3 toàn bộ vùng Tây Nguyên rộng lớn được giải phóng. Đợt 3, phát triển xuống vùng ven biển Khu 5: Trên đà thắng lợi, các đơn vị tiếp tục phát triển, tiến xuống đồng bằng. Lực lượng pháo binh chiến dịch đã chi viện cho Sư đoàn 320 và Trung đoàn 958 tiến công theo Đường số 7, tiêu diệt và bắt sống 11 tiểu đoàn bộ binh địch ở Tuy Hòa; Sư đoàn bộ binh 10 theo Đường 21, lần lượt tiêu diệt địch ở khu vực đèo M’Drắk - Phượng Hoàng, Buôn Thi, Dục Mỹ, sau đó tiến về giải phóng Ninh Hòa, Nha Trang, Cam Ranh; Sư đoàn 968 và Trung đoàn 95A phát triển theo Đường 19 tiêu diệt địch ở căn cứ An Khê, Phú Phong, sân bay Gò Quánh, Bình Định.

Bộ đội và nhân dân Tây Nguyên kéo pháo 85mm vào trận địa bắn ngắm trực tiếp

Như vậy, sau 1 tháng tiến công liên tục, ta đã tiêu diệt và làm tan rã Quân đoàn 2, Quân khu 2 ngụy, loại khỏi vòng chiến đấu hơn 28.000 tên địch, thu và phá hủy 154 máy bay, 1.096 xe quân sự, 17.188 súng các loại; giải phóng 5 tỉnh (Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Phú Bổn, Quảng Đức) và một số tỉnh Trung Bộ. Thắng lợi có ý nghĩa chiến lược trong Chiến dịch Tây Nguyên đánh dấu bước phát triển cao của nghệ thuật sử dụng pháo binh đó là: Phải làm tốt công tác bảo đảm cho các đơn vị pháo binh (trinh sát nắm địch, cơ động, chỉ huy bắn) đặc biệt là với pháo xe kéo; Tập trung ưu thế hỏa lực pháo binh trên hướng chủ yếu, mục tiêu chủ yếu, trận đánh then chốt, thời cơ quyết định, khéo nghi binh tạo thế, tạo bất ngờ, giành thế chủ động đánh địch liên tục; Kiên quyết cơ động pháo, cơ động hỏa lực, chi viện kịp thời, hiệu quả cho các nhiệm vụ tác chiến chiến dịch; Tích cực lấy pháo, đạn, phương tiện vật chất của địch để đánh địch, bảo đảm càng đánh càng mạnh.

Mặc dù Chiến dịch Tây Nguyên đã diễn ra hơn 40 năm, nhưng những bài học kinh nghiệm quý giá về nghệ thuật tác chiến chiến dịch nói chung, nghệ thuật sử dụng pháo binh nói riêng vẫn còn nguyên giá trị. Những bài học đó đã và đang được cán bộ, giảng viên Khoa Pháo binh vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo vào quá trình huấn luyện cho các lớp chuyên ngành pháo binh trong điều kiện mới của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc.

Khoa Pháo binh thông qua Chiến lệ “Sử dụng Pháo binh trong chiến dịch Tây Nguyên 1975”

Trước sự phát triển nhanh chóng của khoa học kỹ thuật quân sự; sự thay đổi về phương thức tác chiến trong các cuộc xung đột quân sự gần đấy trên thế giới; sự điều chỉnh tổ chức lực lượng Quân đội, sự phát triển của Lực lượng Pháo binh - tên lửa; nghệ thuật sử dụng pháo binh, nhất là những vấn đề về xây dựng thế trận; tổ chức, sử dụng lực lượng; tổ chức, chỉ huy hỏa lực; cơ động pháo binh đang đặt ra nhiều vấn đề mới và cấp thiết. Cấp ủy, Chỉ huy Khoa Pháo binh thường xuyên đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giảng viên, trong đó có việc nghiên cứu, biên soạn chiến lệ, phục vụ cho công tác huấn luyện, trong đó chú trọng đối tượng là học viên chuyên ngành pháo binh, bảo đảm cho học viên có kiến thức toàn diện, nhạy bén trong tư duy chiến thuật, tiếp cận và làm chủ những trang bị, công nghệ mới, đáp ứng đòi hỏi khách quan về nâng cao chất lượng giáo dục - đào tạo và huấn luyện sẵn sàng chiến đấu ở các nhà trường, đơn vị pháo binh - tên lửa trong toàn quân, góp phần thực hiện tốt phương châm “Chất lượng đào tạo của nhà trường là khả năng sẵn sàng chiến đấu của đơn vị”.

Đồng chí Đại tá, PGS.TS Nguyễn Văn Hùng giảng bài cho học viên Cao học Khóa 33./.


Tác giả: KPB. Nguyễn Văn Hùng
Tổng số điểm của bài viết là: 26 trong 6 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?