Chiến dịch Tây Nguyên - đòn điểm huyệt quyết định báo trước cái kết của chế độ Việt Nam Cộng hòa
Chúng ta đang sống trong những ngày tháng Tư lịch sử, ngày mà hơn 50 năm về trước toàn miền Nam đang rung chuyển bởi những chiến dịch quân sự lớn chưa từng có trong lịch sử, kết hợp tổng tiến công và nổi dậy với mục tiêu cao nhất là phải giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Sau Hiệp định Paris năm 1973 chính thức được ký kết, sự quan tâm của người Mỹ đối với chính quyền Sài Gòn ngày càng ít đi, các khoản chiến phí bị cắt giảm theo từng năm, cho đến năm 1975 tiền viện trợ đã giảm hơn một nửa so với trước năm 1972. Có vẻ như người Mỹ đã không quan tâm tới lời hứa của Nickson trước đây, chính thức bỏ rơi Nguyễn Văn Thiệu và chế độ Việt Nam Cộng hòa, tình hình Sài Gòn ngày càng trở nên bi thảm.
Đứng trước thời cơ chiến lược to lớn với đầy đủ điều kiện về quân sự và chính trị. Tháng 10 năm 1974, Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp thảo luận kế hoạch giải phóng miền Nam và Tây Nguyên được lựa chọn là hướng mở đầu chiến lược. Theo ý kiến của thượng tướng Hoàng Minh Thảo, nếu chọn hướng chiến lược là Tây Nguyên thì trước hết nhất định phải đánh Buôn Ma Thuột. Bởi vì, Buôn Ma Thuột là một thị xã lớn, nơi hiểm yếu và cũng lại là nơi địch sơ hở nhất.
Trước khi bắt đầu, một kế hoạch nghi binh kinh điển đã được vạch ra nhằm đảm bảo tuyệt đối giữ bí mật hướng chiến lược và trận mở đầu chiến dịch. Thực hiện kế hoạch nghi binh, Sư đoàn 10 và Sư đoàn 320 Quân Giải phóng được lệnh ăn tết sớm và hành quân vào vị trí tập kết chiến dịch. Hai sư đoàn này di chuyển mà không mang theo lực lượng thông tin cũng như khí tài vô tuyến điện, tất cả để lại phục vụ cho kế hoạch nghi binh. Hàng ngày đúng giờ, thông tin viên của các đơn vị vẫn lên máy và phát đi những bức điện giả để đánh lạc hướng tình báo của địch.
Sư đoàn 968 cũng khẩn trương được điều động hành quân gấp từ Lào về Tây Nguyên, sau đó chia ra làm hai, một phần ở phía Bắc Kon Tum thay cho Sư đoàn 10 và phần còn lại đứng chân tại Pleiku thay cho Sư đoàn 320. Công việc hàng ngày của cán bộ, chiến sĩ Sư đoàn 968 chính là thực hiện một số trận đánh nghi binh hoặc liên tục pháo kích vào Kon Tum và Pleiku; khiến cho địch nhầm tưởng ta đang tập trung lực lượng để đánh lớn vào Bắc Tây Nguyên.
Ngoài ra, còn một nhiệm vụ khác không kém phần quan trọng đối với Sư đoàn 320 đó là hình thành gọng kìm chia cắt Quốc lộ 14 và 21, ngăn chặn không cho quân Việt Nam Cộng hòa từ Bắc Tây Nguyên quay về ứng cứu cho lực lượng đồn trú ở thị xã Buôn Ma Thuột. Đồng thời, sẵn sàng tiến công giải phóng Kon Tum và Pleiku khi thời cơ đến.
Thực hiện kế hoạch nghi binh, Quân Giải phóng cũng đã huy động một số lượng lớn đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn Tây Nguyên tham gia làm đường kéo pháo và thông qua họ tung tin đồn thất thiệt, tin giả tới tình báo Việt Nam Cộng hòa (CIO) và cả tình báo Mỹ (CIA). Chính những hoạt động ấy đã khiến cho cả tình báo Mỹ và Sài Gòn đã bị tê liệt trước khi chiến dịch bắt đầu vì không thể nào đoán biết được ý đồ và hành động của Quân Giải phóng.
Tiếp đó, đúng vào lúc 14 giờ, ngày 28 tháng 2 năm 1975 trận đánh nghi binh quyết định đã được Quân Giải phóng thực hiện để mở màn cho chiến dịch Tây Nguyên. Trận đánh nghi binh vào Bắc Kon Tum - Tây Pleiku với sự tham gia của Sư đoàn 10, Sư đoàn 316, Sư đoàn 320… và chính trận đánh này đã khiến cho địch càng tin chắc rằng Quân Giải phóng sẽ đánh vào Bắc Tây Nguyên.
Trước tình thế đó, buộc Tư lệnh Quân đoàn 2 Việt Nam Cộng hòa tướng Phạm Văn Phú đã có một quyết định sai lầm đó là giữ Sư đoàn 23 ở lại Bắc Tây Nguyên. Mặc dù, trước đó một ngày “Phú” đã phê chuẩn kế hoạch điều chuyển sư đoàn này về lại Buôn Ma Thuột và tất nhiên đòn nghi binh của Quân Giải phóng thành công vượt ra ngoài mong đợi, khiến cho kẻ thù thực sự rối trí.
Sau đòn nghi binh hoàn hảo ấy, lúc 02 giờ sáng ngày 10 tháng 3 năm 1975 thị xã Buôn Ma Thuột bất ngờ bị đánh úp bởi Quân Giải phóng, các mũi đột kích của Đoàn 198 đặc công đã đánh sâu vào các mục tiêu trọng yếu như: sân bay Hòa Bình; kho Mai Hắc Đế; khu hậu cứ của Trung đoàn 53 quân Việt Nam Cộng hòa; dưới sự chi viện hỏa lực của các tổ hợp hỏa tiễn ĐKB và H12 gần như đã làm cho quân địch ở đây thực sự tê liệt và không còn khả năng kháng cự.
Theo lời kể của Thiếu tá Phạm Huấn, trợ lý báo chí của tướng Phạm Văn Phú lúc bấy giờ thì những trận pháo kích của Quân Giải phóng đã thực sự gây kinh hoàng cho cả hai tên chỉ huy của Việt Nam Cộng hòa tại Buôn Ma Thuột là Đại tá Nguyễn Trọng Luật, tỉnh trưởng Đắk Lắk và Đại tá Vũ Thế Quang, sư đoàn phó Sư đoàn 23 quân lực Việt Nam Cộng hòa.
Tại thời điểm đó Vũ Thế Quang vẫn nhận định rằng “Ta chỉ dùng đặc công và pháo binh quấy rối, tới sáng sẽ rút”. Tuy nhiên, ý định và hành động của Quân Giải phóng đã chứng minh những nhận định của “Quang” là sai lầm. Bởi vì, lúc 05 sáng ngày 10 tháng 3, cửa ngõ trên các hướng tiến công của Quân Giải phóng vào thị xã Buôn Ma Thuột đã được khai thông, các đơn vị xe tăng có bộ binh đi kèm đã mở hết tốc lực, húc đổ cây rừng đã được cưa sẵn, vượt qua tuyến phòng thủ vòng ngoài và đánh thẳng vào trung tâm Buôn Ma Thuột.
Như vậy, dựa vào thế nghi binh và những tính toán kỹ lưỡng trước đó, Quân Giải phóng đã nhanh chóng đánh thẳng vào trung tâm thị xã với rất ít sự kháng cự từ phía quân lực Việt Nam Cộng hòa. Binh sĩ quân Việt Nam Cộng hòa trong thị xã Buôn Ma Thuột liên tục gọi điện kêu cứu, nhưng Quân đoàn 2 của tướng Phú hoàn toàn bất lực, không thể nào và không còn cách nào khác để tăng viện ứng cứu cho Buôn Ma Thuột; khi lực lượng ứng cứu đường bộ và cả đường không đều đã bị quân ta triệt hạ.
Bị bao vây tứ bề và tiến công từ nhiều hướng, địch còn lại ở Buôn Ma Thuột vẫn nỗ lực kháng cự để chờ viện binh. Thế nhưng đến 11 giờ trưa thì mọi chuyện coi như chấm hết, khi Sư đoàn 316 và các đơn vị tham chiến đã hoàn toàn làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột. Chính xác là đúng 33 tiếng đồng hồ là thời gian mà Quân Giải phóng cần để đánh chiếm và làm chủ thị xã Buôn Ma Thuột.
Tin Buôn Ma Thuột thất thủ đã làm chấn động toàn miền Nam và nhanh chóng lan tới tòa “Bạch Ốc”, cũng như “Ngũ Giác Đài”. Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và Tổng Tham mưu trưởng quân lực Việt Nam Cộng hòa Cao Văn Viên tức tốc hạ lệnh tử thủ Tây Nguyên. Đồng thời, lệnh cho Phạm Văn Phú phải tái chiếm Buôn Ma Thuột bằng mọi giá và hy vọng với lực lượng còn trong tay, Phú có thể lấy lại Buôn Ma Thuột qua đó để xin thêm viện trợ từ Hoa Kỳ.
Thế nhưng hy vọng đó hoàn toàn đổ vỡ, bởi trong thực tế dù đông quân hơn nhưng quân Việt Nam Cộng Hòa tại Buôn Ma Thuột gần như đã mất đi khả năng kháng cự; hơn thế nữa đó là tinh thần chiến đấu đã hoàn toàn rệu rã và kế hoạch tái chiếm Buôn Ma Thuột đã sớm thất bại toàn tập. Theo đó là hệ lụy một cuộc triệt thoái thảm họa trên Đường số 7 đã chính thức khép lại, cái kết của quân lực Việt Nam Cộng hòa trên Cao nguyên Trung phần nói riêng và toàn miền Nam nói chung đã chính thức có hồi kết.
Hậu quả của việc để mất Tây Nguyên đối với Sài Gòn là quá rõ, họ đã mất đi Quân đoàn 2, một đơn vị có khả năng chiến đấu tốt nhất của quân lực Việt Nam Cộng hòa. Đồng thời, để lại cho Quân Giải phóng có một vùng khu chiến rộng lớn với nhiềm tiềm lực. Sau Tây Nguyên là Huế - Đà Nẵng, rồi Phan Rang - Xuân Lộc liên tiếp thất thủ và cuối cùng là Sài Gòn cũng không giữ được.
Phải nói rằng trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ thì chưa một chiến dịch nào diễn ra nhanh như chiến dịch Tây Nguyên và trận đánh thị xã Buôn Ma Thuột chỉ vỏn vẹn chưa đầy 48 tiếng đồng hồ. Một chiến dịch thành công được tổng hợp từ nhiều yếu tố mà trong đó một kế hoạch nghi binh hoàn hảo đã đóng vai trò then chốt quyết định, kế hoạch ấy xứng đáng được đưa vào những cuốn sách khoa giáo về quân sự hàng đầu của thế giới.
Đứng trước thời cơ chiến lược lớn với điều kiện đầy đủ về quân sự và chính trị. Ngày 31 tháng 3 năm 1975, Bộ Chính trị họp quyết định mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy giải phóng Sài Gòn với tư tưởng chỉ đạo “Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng”. Đại tướng Văn Tiến Dũng được cử làm Tư lệnh Chiến dịch Sài Gòn Gia Định sau đổi tên thành chiến dịch Hồ Chí Minh. Đây chính là chiến dịch cuối cùng của Cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975.

Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp thảo luận kế hoạch chiến lược giải phóng miền Nam
Khi đánh giá về ý nghĩa của chiến dịch Tây Nguyên, nguyên Tư lệnh chiến dịch Thượng tướng Hoàng Minh Thảo đã từng nhận xét “Chiến thắng Tây Nguyên đã tạo cho quân dân ta những điều kiện thuận lợi để chuyển sang cuộc tổng tiến công và nổi dậy ngày càng phát triển mạnh mẽ trên khắp các chiến trường và giành thắng lợi ngày càng lớn”.
Hôm nay, giữa mùa Xuân đại thắng, trong niềm vui chung của đất nước, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tập trung nỗ lực tiếp tục công cuộc đổi mới toàn diện đất nước mà trọng tâm là “Phát huy tự chủ, khát vọng phát triển, nâng cao hạnh phúc nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, gắn liền với chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và xây dựng Đảng” theo đúng tư tưởng chỉ đạo của Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Trong điều kiện mới của đất nước thì sự đoàn kết toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta vẫn mãi là cội nguồn của sức mạnh tiếp tục khẳng định tiềm lực và vị thế của đất nước; để mùa xuân đổi mới thực sự là mùa xuân của tự do, ấm no, tin yêu và hạnh phúc.
Tiếp bước cha anh, đồng hành cùng non sông đất nước, cán bộ giảng viên Học viện Lục quân nói chung và Khoa Trinh sát nói riêng tiếp tục phấn đấu vươn lên, tích cực học tập và tự giác rèn luyện không ngừng nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng và năng lực chuyên môn đủ sức hoàn thành thắng lợi nhiệm vụ chính trị trung tâm trong điều kiện mới. Để mãi xứng đáng với truyền thống, lòng kiêu hãnh của thế hệ cha anh và mãi tự hào là cán bộ giảng viên Học viện Lục quân Anh hùng; nơi mà một thời Tư lệnh Hoàng Minh Thảo từng làm Viện trưởng./.
Tài liệu tham khảo: “Tổng hành dinh trong mùa xuân toàn thắng”, Hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, năm 2000.





