• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Giáo dục chính trị
Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 689
Tháng 05 : 7.251
Tháng trước : 35.928
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Vận dụng quan điểm Đại hội XIV về mô hình tăng trưởng mới vào giảng dạy ở học phần kinh tế chính trị cho học viên đào tạo cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Lục quân hiện nay

Mô hình tăng trưởng mới là xu hướng phát triển và là yêu cầu khách quan của Việt Nam để đạt mục tiêu tăng trưởng trên hai con số giai đoạn 2026 - 2030, trở thành nước phát triển có thu nhập cao vào năm 2045. Sau 40 năm đổi mới kinh tế nước ta tăng trưởng cao liên tục nhưng động lực của tăng trưởng theo mô hình cũ không còn, để không rơi vào bẩy thu nhập trung bình, đòi hỏi Việt Nam phải đổi mới mô hình tăng trưởng.

Đổi mới mô hình tăng trưởng là quá trình chuyển đổi từ chiều “rộng” sang chiều “sâu” dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Đó là sự chuyển đổi từ mô hình dựa chủ yếu vào đầu tư vốn, khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ sang mô hình dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây là sự chuyển đổi về chất của phương thức phát triển, nhằm tạo ra năng suất cao hơn, chất lượng tăng trưởng cao hơn và khả năng cạnh tranh mạnh hơn của nền kinh tế. Đổi mới mô hình tăng trưởng mới bao trùm trên toàn bộ nền kinh tế quốc dân của nước ta, trong đó tập trung trên một số nội dung như:

 

Một là, đổi mới tư duy và đẩy mạnh cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng trên cơ sở bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn.

Nghị quyết 68 - NQ/TW, ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân xác định “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia”. Hình thành một số tập đoàn kinh tế tư nhân mạnh, quy mô lớn, đầu đàn để dẫn dắt chuỗi giá trị trong nước và mở rộng, tham gia thị trường toàn cầu.

Nghị quyết 79 - NQ/TW, ngày 06/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước, đổi mới kinh tế nhà nước trọng tâm là doanh nghiệp nhà nước theo các chuẩn mực quốc tế, tăng cường hiệu quả và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước. Cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước, tăng chi cho đầu tư phát triển tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên, giảm chi thường xuyên.

Thu hút vốn đầu tư nước ngoài có chọn lọc, gắn với chuyển giao, học hỏi và tiếp thu công nghệ, nâng cao năng lực nội sinh về công nghệ, mở rộng thị trường và tăng cường kết nối với các khu vực kinh tế của Việt Nam. Kinh tế tập thể, hợp tác xã được chuyển giao công nghệ và mở rộng thị trường, sản xuất - kinh doanh theo chuỗi giá trị.

Hai là, nâng cao hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp then chốt, từng bước làm chủ công nghệ nền, công nghệ cao, công nghệ lõi nhất là chíp bán dẫn, rôbốt, trí tuệ nhân tạo, vật liệu mới, năng lượng mới, năng lượng tái tạo. Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng xanh, sinh thái, tuần hoàn, theo chuỗi giá trị, có hiệu quả. Phát triển các loại hình dịch vụ mới, dịch vụ kết nối có giá trị gia tăng cao, có lợi thế.

Ba là, làm rõ mối quan hệ giữa nhà nước - thị trường - xã hội.

Trong đó thị trường giữ vai trò vai trò quyết định trong huy động và phân bổ các nguồn lực chủ yếu. Nhà nước đóng vai trò định hướng, điều tiết và kiến tạo phát triển. Xã hội giữ vai trò giám sát và đồng hành. Đây chính là cơ sở để vận hành hiệu quả mô hình tăng trưởng mới trong điều kiện nước ta hội nhập sâu rộng hiện nay.

Bốn là, phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế chia sẻ.

Kinh tế số là nền kinh tế dựa trên công nghệ số và nền tảng số, với các hoạt động kinh tế và bằng công nghệ số và nền tảng số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành trên Internet. Quyết định số 411/QĐ-TTg ngày 31/03/2022 của Thủ tướng Chính phủ về Phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển kinh tế số và xã hội số đến năm 2030​, nền kinh tế số (Digital economy) là “Hoạt động kinh tế sử dụng công nghệ số và dữ liệu số làm yếu tố đầu vào chính, sử dụng môi trường số làm không gian hoạt động chính, sử dụng công nghệ thông tin - viễn thông để tăng năng suất lao động, đổi mới mô hình kinh doanh và tối ưu hóa cấu trúc nền kinh tế”.

Kinh tế xanh là phát triển kinh tế đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó giảm thiểu ô nhiễm và tác động đến môi trường, tăng cường khả năng phục hồi trước biến đổi tự nhiên, đẩy mạnh vai trò của quản lý nhà nước về môi trường và nguồn lực tự nhiên trong việc ngăn ngừa các thảm họa từ thiên nhiên. Quyết định số 1658/QĐ - TTg, ngày 01/10/2021, của Thủ tướng Chính phủ, phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050 là “Tăng trưởng xanh là một phương thức quan trọng để thực hiện phát triển bền vững đóng góp trực tiếp vào giảm phát thải khí nhà kính để hướng tới nền kinh tế trung hòa các - bon trong dài hạn…Tăng trưởng xanh là sự nghiệp của cả hệ thống chính trị, toàn dân, cộng đồng doanh nghiệp và cơ quan tổ chức liên quan, được thúc đẩy bằng tinh thần đổi mới sáng tạo và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, bền vững”.

Kinh tế tuần hoàn là mô hình kinh tế trong đó các hoạt động thiết kế, sản xuất và dịch vụ đặt ra mục tiêu kéo dài tuổi thọ của vật chất và loại bỏ tác động tiêu cực đến môi trường “không có gì bị loại bỏ”.

Kinh tế chia sẻ là hoạt động tái thiết kinh tế, trong đó các cá nhân ẩn danh có thể sử dụng các tài sản nhàn rỗi (bao gồm cả các tài sản vô hình như kỹ năng cá nhân và thời gian rảnh rỗi), được sở hữu bởi các cá nhân khác thông qua các nền tảng kết hợp trên Internet.

Việc vận dụng quan điểm Đại hội XIV của Đảng về mô hình tăng trưởng mới vào giảng dạy học phần kinh tế chính trị cho học viên đào tạo cao cấp lý luận chính trị ở Học viện Lục quân hiện nay, không chỉ là yêu cầu cập nhật nội dung mà còn là quá trình “chuyển hóa” lý luận thành năng lực tư duy và hành động của đội ngũ cán bộ, lãnh đạo quản lý quân đội trong thực tiễn.

Cụ thể trên một số nội dung cơ bản:

Một là, về lực lượng sản xuất.

Làm thay đổi bản chất, làm cho khoa học công nghệ từ “hỗ trợ” thành “động lực trực tiếp” của tăng trưởng. Công nghệ, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu (đúng - đủ - sạch - sống - thống nhất - dùng chung) là yếu tố mới có tính quyết định đến tăng năng suất lao động quốc gia và năng lực cạnh tranh quốc gia. Do vậy chuyển đổi số trở thành trụ cột của mô hình tăng trưởng mới.

Hai là, về quan hệ sản xuất.

Phải hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất mới. Đó là việc cải cách môi trường kinh doanh, giảm và bãi bỏ các thủ tục gây phiền hà cho doanh nghiệp và người dân, phát triển các loại thị trường (sức lao động, khoa học - công nghệ, vốn, đất đai), đổi mới vai trò của Chính phủ từ tư duy quản lý sang tư duy kiến tạo phát triển.

Ba là, về tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Động lực của mô hình tăng trưởng cũ chủ yếu là vốn (nhất là đầu tư công), khai thác tài nguyên và mở rộng lao động giá rẻ. Tăng trưởng nhanh nhưng hiệu quả thấp, hệ số ICOR cao, năng suất lao động tăng chậm. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm chủ yếu dựa nhiều vào gia công, lắp ráp giá trị gia tăng thấp, ngành nông nghiệp và công nghiệp khai thác tài nguyên chiếm tỷ trọng lớn. Khoa học và công nghệ ở trình độ thấp, phụ thuộc vào nước ngoài.

Mô hình kinh tế mới động lực chính là năng suất lao động cao, đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ nhất là chuyển đổi số. Nâng cao giá trị gia tăng và năng lực nội sinh của nền kinh tế. Có cơ cấu kinh tế tiến bộ, hiện đại nhất là công nghệ cao, dịch vụ, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Bốn là, về phương pháp giảng dạy.

Cần đổi mới mạnh mẽ phương pháp giảng phù hợp với đối tượng học viên cao cấp lý luận chính trị, nếu truyền đạt một chiều sẽ không hiệu quả. Mà phải tăng cường tương tác, trao đổi, thảo luận, đối thoại với phương châm “người dạy cùng người học sáng tạo tri thức”, phân tích tình huống và phản biện chính sách. Như việc giảng viên đưa ra một tình huống về chuyển đổi mô hình tăng trưởng mới ở một địa phương cụ thể, yêu cầu học viên phân tích những thuận lợi, khó khăn và đề xuất giải pháp. Qua đó học viên không chỉ tiếp thu kiến thức mà còn rèn luyện kỹ năng tư duy và năng lực giải quyết vấn đề và học viên sẽ “tin” và “làm theo”.

Năm là, phải hướng tới phát triển năng lực vận dụng của học viên.

Mục tiêu của đào tạo cao cấp lý luận chính trị nói chung và học phần kinh tế chính trị nói riêng không phải chỉ là “biết” mà là “làm được”. Do đó, khi giảng cần khuyến khích học viên liên hệ với thực tiễn ở đơn vị, địa phương nơi công tác của bản thân, từ đó đề xuất các giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng mới ở đơn vị và địa phương nơi đóng quân. Đây là bước chuyển nhận thức lý luận sang hành động thực tiễn, thể hiện rõ vai trò của đào tạo cao cấp lý luận trong công tác cán bộ quân đội hiện nay.

Tài liệu tham khảo

1. Văn kiện Đại hội XIV của Đảng, tập I, II, Nxb. CTQG - ST, H. 2026.

2. Nghị quyết số 57, 68, 79 của Bộ Chính trị Khóa XIII.

3. Nghị quyết số 41, ngày 11/3/2026, về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

4. Kết luận số 18 - KL/TW, ngày 02/4/2026, về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia gắn với thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”.

N.T.T


Tác giả: KMLNTTHCM. Nguyễn Tài Trí
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?