Học viện Lục quân: Trường Bổ túc quân sự trung, cao cấp; Hệ Quân sự - Học viện Quân chính; Học viện Quân sự trong kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Trong tiến trình xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam, công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân sự luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiến hành cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, yêu cầu xây dựng quân đội chính quy, hiện đại và chuẩn bị nguồn cán bộ chỉ huy, tham mưu cho các chiến trường đặt ra ngày càng cấp thiết. Trên cơ sở đó, tiền thân của Học viện Lục quân ngày nay đã không ngừng phát triển về tổ chức, nhiệm vụ và chất lượng đào tạo, từ Trường Bổ túc quân sự trung, cao cấp đến Hệ Quân sự - Học viện Quân chính và Học viện Quân sự, trở thành trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ quân sự trung, cao cấp của Quân đội nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, lực lượng vũ trang nhân dân phát triển nhanh chóng cả về quy mô và tổ chức. Nhu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ chỉ huy các cấp trở thành nhiệm vụ cấp bách. Ngày 31 tháng 5 năm 1955, Đại tướng Võ Nguyên Giáp ký quyết định thành lập Trường Bổ túc quân sự trung, cao cấp trên cơ sở Trường Bổ túc quân chính trung cấp. Nhà trường có nhiệm vụ mở các lớp huấn luyện quân sự từ ngắn hạn tiến lên dài hạn, bồi dưỡng cán bộ trung, cao cấp phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp xây dựng Quân đội.
Ngay từ những năm đầu thành lập, nhà trường đặc biệt quan tâm xây dựng đội ngũ giáo viên và bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ huấn luyện. Với sự giúp đỡ của các chuyên gia quốc tế, nhiều cán bộ, giáo viên được bồi dưỡng về chiến thuật hiệp đồng binh chủng và phương pháp giảng dạy. Nội dung huấn luyện tập trung vào những vấn đề cốt lõi của nghệ thuật quân sự như tác chiến tiến công, phòng ngự cấp trung đoàn, nguyên tắc sử dụng các binh chủng trong chiến đấu và nghiên cứu phương thức tác chiến của đối phương.
Từ năm 1955 đến năm 1957, nhà trường đã tổ chức 21 lớp tập huấn quy mô lớn, đào tạo 2.416 cán bộ từ cấp tiểu đoàn đến sư đoàn trong toàn quân. Nội dung huấn luyện không ngừng được nâng cao, từ tác chiến ở địa hình thông thường đến chiến đấu trong điều kiện rừng núi, vượt sông và hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Cùng với đó, nền nếp chính quy được duy trì nghiêm túc; công tác tổng kết thực tiễn, bồi dưỡng giáo viên được tiến hành thường xuyên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.
Từ năm 1958, thực hiện yêu cầu mới của Bộ Quốc phòng, nhà trường chuyển mạnh từ huấn luyện ngắn hạn sang đào tạo dài hạn, cơ bản và có hệ thống. Khóa bổ túc dài hạn đầu tiên được tổ chức với 334 học viên. Nội dung đào tạo gồm quân sự, chính trị và văn hóa, trong đó quân sự là trọng tâm. Đây là giai đoạn quan trọng đánh dấu sự chuyển biến từ phương thức đào tạo bổ túc đơn thuần sang huấn luyện có tính khoa học và hệ thống. Hoạt động nghiên cứu khoa học quân sự được đẩy mạnh; nhiều tài liệu chiến thuật được biên soạn phục vụ công tác huấn luyện trong toàn quân.
Những thành tựu đạt được trong giai đoạn 1955 - 1961 đã tạo nền tảng quan trọng cho sự phát triển của nhà trường. Năm 1959, Trường Bổ túc quân sự trung, cao cấp vinh dự được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất. Đây là sự ghi nhận xứng đáng đối với những đóng góp to lớn của nhà trường trong sự nghiệp đào tạo cán bộ quân sự cho Quân đội nhân dân Việt Nam.
Thực hiện chủ trương xây dựng một học viện quân sự - chính trị tổng hợp của Quân đội, ngày 03 tháng 3 năm 1961, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng ban hành Quyết định số 12/BQP sáp nhập Trường Bổ túc quân sự trung, cao cấp và Trường Lý luận chính trị trung, cao cấp thành Học viện Quân chính. Từ đây, Trường Bổ túc quân sự trung, cao cấp trở thành Hệ Quân sự của Học viện Quân chính.
Giai đoạn 1961 - 1965 đánh dấu bước phát triển toàn diện về tổ chức, chương trình đào tạo và nghiên cứu khoa học quân sự. Hệ Quân sự được kiện toàn với hệ thống cơ quan chức năng và các khoa giáo viên chuyên ngành như: Chiến lược, chiến dịch; Chiến thuật bộ binh; Bảo đảm diễn tập và dân quân; Pháo binh; Phòng không - Tên lửa; Công binh; Thông tin; Hậu cần; Bộ môn Trinh sát và nghiên cứu địch; Bộ môn Đường lối quân sự; Bộ môn Lịch sử chiến tranh; tổ Hóa học; tổ Xe tăng. Đội ngũ giảng viên được tăng cường đáng kể, trong đó có 14 cán bộ được đào tạo tại các học viện quân sự nổi tiếng của Liên Xô và Trung Quốc, tạo bước chuyển quan trọng về chất lượng đội ngũ giảng dạy.
Từ tháng 7 năm 1961, Học viện khẩn trương xây dựng chương trình đào tạo dài hạn, biên soạn giáo trình và hệ thống tài liệu phục vụ giảng dạy. Đến cuối tháng 9 năm 1961, chương trình và tài liệu cơ bản đã hoàn thành, được Bộ Quốc phòng phê chuẩn đưa vào giảng dạy chính thức. Đây là dấu mốc quan trọng, khẳng định sự hình thành nền tảng học thuật của Học viện. Không chỉ thực hiện nhiệm vụ đào tạo trong nước, Học viện còn đảm nhiệm nhiệm vụ quốc tế khi tiếp nhận đào tạo cán bộ quân sự trung, cao cấp của Quân đội nhân dân Lào.

Những năm 1962 - 1964, Học viện tổ chức nhiều khóa đào tạo và bổ túc với quy mô lớn, kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực hành, tăng cường diễn tập và thực tập tại đơn vị. Phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt, phục vụ tốt” phát triển sâu rộng; nhiều sáng kiến về phương pháp giảng dạy được áp dụng hiệu quả. Khi đế quốc Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, Học viện đã kịp thời điều chỉnh chương trình đào tạo theo hướng rút ngắn thời gian, tăng cường thực hành chiến đấu và đáp ứng sát yêu cầu chiến trường.
Trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống Mỹ, ngày 21 tháng 5 năm 1965, Bộ Quốc phòng quyết định tách Học viện Quân chính thành Học viện Quân sự và Học viện Chính trị. Từ đây, Học viện Quân sự bước vào một giai đoạn hoạt động đặc biệt trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Sau khi thành lập, Học viện Quân sự nhanh chóng tổ chức lại bộ máy theo phương châm “gọn, nhẹ, mạnh”, đồng thời thực hiện sơ tán nhiều lần để bảo đảm an toàn và duy trì hoạt động đào tạo. Mặc dù phải hoạt động trong điều kiện khó khăn, Học viện vẫn giữ vững chất lượng huấn luyện và nghiên cứu khoa học quân sự.
Quán triệt phương châm: “Đào tạo cán bộ gắn với yêu cầu của chiến trường”, “Học những nội dung cần thiết, sát thực, phục vụ kịp thời cho chiến trường và vận dụng những kinh nghiệm đánh giặc của dân tộc”, Học viện chuyển mạnh từ đào tạo dài hạn sang các hình thức bổ túc, tập huấn ngắn hạn, sát với yêu cầu thực tiễn chiến đấu. Nhiều đoàn cán bộ, giáo viên được cử đi thực tế tại các chiến trường và đơn vị chủ lực để nghiên cứu, tổng kết kinh nghiệm chiến đấu, phục vụ trực tiếp cho công tác giảng dạy.
Trong suốt giai đoạn 1965 - 1975, Học viện liên tục mở các lớp tập huấn, bồi dưỡng cán bộ chỉ huy - tham mưu trung, cao cấp; tổ chức nhiều cuộc diễn tập thực binh, huấn luyện dã ngoại, hành quân dài ngày và diễn tập hiệp đồng binh chủng. Nội dung huấn luyện tập trung vào các hình thức tác chiến chủ yếu như công kiên, vận động tiến công, phục kích, tập kích, công tác tham mưu, bảo đảm hậu cần và công tác đảng, công tác chính trị trong chiến đấu.
Từ năm 1968 đến năm 1972, cùng với sự phát triển của chiến trường, Học viện tiếp tục điều chỉnh nội dung đào tạo theo hướng nâng cao trình độ chỉ huy chiến dịch và khả năng tổ chức hiệp đồng binh chủng quy mô lớn. Sau Hiệp định Paris năm 1973, Học viện tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quân sự cao cấp chuẩn bị cho giai đoạn quyết định của cuộc kháng chiến. Ngày 01 tháng 7 năm 1974, Học viện khai giảng lớp bổ túc cao cấp quân sự với học viên là các cán bộ từ cấp sư đoàn đến quân khu. Nhiều đồng chí sau khóa học đã trực tiếp tham gia chỉ huy các chiến dịch lớn, góp phần làm nên thắng lợi mùa Xuân năm 1975.
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cùng với nhiệm vụ đào tạo, Học viện còn là trung tâm nghiên cứu và phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh. Từ thực tiễn chiến đấu phong phú trên các chiến trường, Học viện đã tổng kết nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn quan trọng về chiến tranh nhân dân, chiến thuật, chiến dịch và nghệ thuật quân sự Việt Nam, góp phần bổ sung, phát triển lý luận quân sự của Đảng.
Với những đóng góp to lớn đó, trong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Học viện đã đào tạo, bồi dưỡng hơn 15.000 cán bộ quân sự trung, cao cấp cho toàn quân, đáp ứng yêu cầu tác chiến ở các chiến trường, đặc biệt là trong các chiến dịch lớn như Đường 9 - Nam Lào, Tây Nguyên, Huế - Đà Nẵng và Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Đây là minh chứng sinh động cho vai trò đặc biệt quan trọng của Học viện trong sự nghiệp xây dựng Quân đội, phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam và góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân làm nên thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước./.
H.M.C





