Đấu tranh chống luận điệu xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo của Đảng và Nhà nước
Hàng năm lợi dụng sự kiện Gạc Ma ngày 14 tháng 3 năm 1988, các thế lực thù địch, phản động tăng cường hoạt động xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách quốc phòng, nhất là chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam nhằm gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Đặc biệt, năm 2026 trong bối cảnh nước ta tổ chức sự kiện bẩu cử Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp, chúng càng ra sức chống phá quyết liệt hơn.
Để thực hiện âm mưu, các thế lực thù địch thường sử dụng các biện pháp như: Chúng lập nên các trang mạng xã hội, các tờ báo, đài phát thanh phản động ở nước ngoài để đăng tải, chia sẻ các bài viết, video bóp méo, bác bỏ các tư liệu lịch sử, cơ sở pháp lý và thực tiễn quản lý biển đảo của nhà nước ta để phủ nhận chủ quyền hợp pháp của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Trên cơ sở đó, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục xuyên tạc đường lối giải quyết tranh chấp biển đảo bằng biện pháp hòa bình, tuân thủ luật pháp quốc tế của Việt Nam, quy kết đây là biểu hiện của sự “nhượng bộ chủ quyền” “đánh đổi chủ quyền để đổi lấy lợi ích kinh tế hoặc đối ngoại” nhằm tạo hoài nghi trong nhân dân. Cùng với đó, chúng lợi dụng “lòng yêu nước” các đối tượng thù địch kích động tư tưởng cực đoan dân tộc, lôi kéo biểu tình trái pháp luật, gây mất ổn định chính trị - xã hội.

Thực tế cho thấy, các đối tượng thù địch, phản động luôn sử dụng một cách có chọn lọc các sự kiện lịch sử để tung ra các luận điệu chống phá, xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam theo một kịch bản lặp lại. Từ sự kiện Gạc Ma năm 1988, các đối tượng phản động cố tình bóp méo lịch sử, xuyên tạc bản chất chính nghĩa, sự hy sinh anh dũng của cán bộ, chiến sĩ Hải quân Việt Nam, qua đó quy kết sai trái đường lối quốc phòng của Đảng và Nhà nước. Năm 2014, trong vụ việc giàn khoan Hải Dương 981 xâm phạm nghiêm trọng vùng biển Việt Nam, nhiều trang mạng phản động đã bóp méo thông tin, rêu rao luận điệu “Việt Nam không đủ năng lực bảo vệ chủ quyền” “Chính phủ Việt Nam bán biển Đông”, trong khi trên thực tế Việt Nam đã kiên quyết đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp luật pháp quốc tế và được dư luận quốc tế đồng tình. Trong các năm 2019-2020, lợi dụng diễn biến phức tạp tại Bãi Tư Chính, các đối tượng chống phá tung ra luận điệu cho rằng Việt Nam “im lặng”, “nhượng bộ”, bất chấp việc Việt Nam đã chủ động, nhất quán đấu tranh trên nhiều kênh chính trị, ngoại giao, quốc phòng và tại các diễn đàn quốc tế. Đến nay, mỗi khi lực lượng chức năng Việt Nam tăng cường thực thi pháp luật trên biển, bảo vệ ngư dân, phát triển kinh tế biển hợp pháp và tham gia tích cực hợp tác khu vực, các luận điệu xuyên tạc lại tái diễn với hình thức tinh vi hơn, vu cáo Việt Nam “quân sự hóa Biển Đông”, đánh tráo khái niệm, suy diễn chính sách quốc phòng “bốn không” thành sự “lệ thuộc” hoặc “thiếu bản lĩnh”.
Có thể thấy rằng các luận điệu xuyên tạc chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam được triển khai có chủ đích, có hệ thống, phục vụ mục đích cụ thể nhằm làm sai lệch nhận thức về tình hình Biển Đông và đường lối quốc phòng của Việt Nam, phá vỡ sự thống nhất trong nhận thức và hành động của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tác động tiêu cực đến “thế trận lòng dân”, làm suy yếu sự đồng thuận xã hội trong chiến lược bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Tạo cớ chính trị để gây sức ép từ bên ngoài, can thiệp vào công việc nội bộ, qua đó phục vụ mưu đồ kiềm chế, làm suy giảm vai trò, vị thế của Việt Nam trên Biển Đông.
Chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam là đúng đắn, được xây dựng trên cơ sở kiên định bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia, đồng thời tôn trọng luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan. Chính sách này được thể hiện nhất quán trong Hiến pháp năm 2013, các văn kiện của Đảng, Sách trắng Quốc phòng Việt Nam và việc Việt Nam nghiêm túc thực thi Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982. Thực tế cho thấy, nhà nước ta đã kiên trì giải quyết các tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán, đối thoại, thể hiện rõ lập trường nhất quán, minh bạch và có trách nhiệm. Chính sách đó không chỉ bảo đảm lợi ích quốc gia - dân tộc, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, mà còn đóng góp tích cực cho hòa bình, ổn định và trật tự pháp lý trên Biển Đông.
Chính sách phòng thủ biển, đảo hòa bình, tự vệ của Việt Nam đã nhận được sự đồng thuận, ủng hộ và đánh giá tích cực từ nhiều nhóm đối tác quan trọng. Từ đó cho thấy chính sách phòng thủ biển, đảo của Việt Nam không chỉ bảo vệ hiệu quả lợi ích quốc gia - dân tộc mà còn phù hợp với lợi ích chung của khu vực và cộng đồng quốc tế trong việc duy trì hòa bình, ổn định và thượng tôn pháp luật trên Biển Đông./.
PAT





