• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 177
Tháng 03 : 12.467
Tháng trước : 26.027
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Hiệp định Pari - mốc son lịch sử, thắng lợi đỉnh cao của ngoại giao Việt Nam

Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam, được ký ngày 27/1/1973 tại thủ đô Pari (Pháp), là một dấu mốc lịch sử có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc và thống nhất đất nước. Hiệp định không chỉ là thành quả của cuộc đấu tranh bền bỉ, kiên cường trên cả ba mặt trận: chính trị, quân sự và ngoại giao, mà còn là minh chứng sinh động cho bản lĩnh, trí tuệ và tầm vóc của nền ngoại giao cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau những thất bại liên tiếp trên chiến trường, nổi bật là sau cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Mỹ rơi vào thế bị động, phải đối mặt cùng lúc với tổn thất nặng nề về quân sự, làn sóng phản chiến lan rộng trong nước và sự phản đối ngày càng gay gắt từ cộng đồng quốc tế đối với tính phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược tại Việt Nam. Trước sức ép toàn diện đó, chính quyền Mỹ buộc phải chấp nhận ngồi vào bàn đàm phán với Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ngày 13/5/1968, các cuộc đàm phán chính thức bắt đầu tại Pari, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, mở ra giai đoạn “vừa đánh, vừa đàm” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Cuộc đàm phán tại Pari kéo dài gần 5 năm, với nhiều vòng thương lượng căng thẳng diễn ra trên cả hai kênh: công khai và bí mật. Đặc biệt, các phiên đàm phán tại Hội nghị Pari, nhất là những cuộc thương lượng giữa Cố vấn đặc biệt Lê Đức Thọ của phái đoàn Việt Nam và Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger bên phái đoàn Mỹ, được ví như những trận đấu trí ngoại giao đầy căng thẳng và quyết liệt. Những cuộc đối thoại này thể hiện rõ bản lĩnh ngoại giao kiên cường, linh hoạt và khôn khéo của phía Việt Nam.

Trong suốt quá trình đàm phán, Việt Nam thể hiện lập trường kiên định, không thỏa hiệp về những vấn đề cốt lõi; đồng thời, biết mềm dẻo, linh hoạt để tạo điều kiện tiến tới thỏa thuận cuối cùng. Việc Mỹ buộc phải công nhận vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam là một bước ngoặt ngoại giao mang tính chiến lược. Những thắng lợi chiến lược trên mặt trận quân sự của ta, đặc biệt là chiến thắng vang dội trong Chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” kéo dài 12 ngày đêm (18 - 29/12/1972), đã tạo thế và lực quan trọng cho phái đoàn Việt Nam trên bàn đàm phán tại Hội nghị Pari.

Ngày 27/1/1973, Hiệp định Pari chính thức được ký kết. Theo đó, Mỹ cam kết rút toàn bộ quân đội, nhân viên quân sự, vũ khí và phương tiện chiến tranh ra khỏi miền Nam Việt Nam, và cam kết tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Hiệp định cũng công nhận vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam, điều mà Mỹ từng kịch liệt phản đối. Đây là một thắng lợi ngoại giao to lớn, mở ra thời cơ chiến lược cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.

Một số hình ảnh tư liệu về Lễ ký kết chính thức Hiệp định Pari 1973

Thắng lợi tại Hội nghị Paris là kết quả tổng hợp của đường lối