• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 110
Tháng 10 : 102.356
Tháng trước : 140.031
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Đại tướng Võ Nguyên Giáp - người cộng sản kiên trung của cách mạng Việt Nam

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 trong một gia đình nhà nho nghèo, giàu lòng yêu nước tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Sớm tham gia các phong trào cách mạng và được Đảng, trực tiếp là Chủ tịch Hồ Chí Minh giáo dục, rèn luyện, cùng với quá trình hoạt động cách mạng kiên cường, anh dũng, cống hiến cả cuộc đời mình cho Tổ quốc, Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn nêu cao tinh thần người chiến sĩ cộng sản kiên trung của cách mạng Việt Nam.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, năm 2002

Sinh ra trên quê hương cách mạng, giàu truyền thống yêu nước, trực tiếp chứng kiến cảnh đồng bào bị bè lũ thực dân và tay sai đàn áp, áp bức, bóc lột đã nung nấu trong Võ Nguyên Giáp ý chí sôi sục và quyết tâm theo cách mạng, đứng lên đấu tranh giành độc lập dân tộc, giải phóng đất nước. Ý chí, quyết tâm và tinh thần yêu nước ấy được hun đúc ngay từ khi Ông còn là học sinh. Năm 1925, Võ Nguyên Giáp đã tích cực tham gia phong trào đấu tranh, bãi khóa ở trường Quốc học Huế, năm 1927 gia nhập tổ chức Đảng Tân Việt cách mạng - tiền thân của Đảng Cộng sản Đông Dương (nay là Đảng Cộng sản Việt Nam); tham gia phong trào đấu tranh cách mạng Xô viết Nghệ tĩnh. Năm 1930, do hoạt động nhiệt tình sôi nổi, dũng cảm trong phong trào cách mạng, Ông bị địch bắt và kết án 2 năm tù. Với ý chí kiên cường, không chịu khuất phục trước kẻ thù, cuối năm 1931, được sự can thiệp của Hội Cứu tế Đỏ của Pháp, Võ Nguyên Giáp được trả tự do, nhưng bị Công sứ Pháp tại Huế ngăn cấm không cho ở lại Huế.

Trong thời gian từ năm 1931 đến năm 1940, mặc dù khi ra tù, mất liên lạc với tổ chức, nhưng với tinh thần luôn hướng về cách mạng, hướng về sự nghiệp giải phóng dân tộc, Ông ra Hà Nội dạy môn lịch sử ở trường Tư thục Thăng Long, viết báo tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng trong thanh niên, học sinh; tham gia hoạt động trong phong trào dân chủ bán hợp pháp của Đảng ở Hà Nội, là biên tập viên của các báo Đảng như “Tiếng nói của chúng ta”, “Tiến lên”, “Tập hợp”, “Thời báo”, “Tin tức”. Đồng thời, tham gia phong trào Đông Dương đại hội và được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc kỳ. Mặc dù, chưa trở thành người cộng sản, nhưng do sớm được tiếp thu tư tưởng cách mạng của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp đã mang trong mình ý chí kiên cường của người chiến sĩ cộng sản phấn đấu vì độc lập tự do của dân tộc.

Đến tháng 6/1940, Võ Nguyên Giáp được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương và được cử sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc và trở thành người học trò xuất sắc của Người. Từ đó, bản lĩnh, phẩm chất, trí tuệ của người cộng sản ở Võ Nguyên Giáp được phát huy cao độ. Trở về nước vào năm 1941, với trách nhiệm là người đảng viên Đảng Cộng sản Đông Dương, Võ Nguyên Giáp cùng các đồng chí khác đã xây dựng cơ sở cách mạng, tích cực tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, lôi cuốn đồng bào các dân tộc tham gia các hoạt động cách mạng, tổ chức và phụ trách Ban xung phong Nam tiến, mở đường nối căn cứ địa cách mạng Cao Bằng với các tỉnh miền xuôi.

Với nhãn quan chính trị và nghệ thuật sử dụng cán bộ rất độc đáo, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã phát hiện ở Võ Nguyên Giáp một thiên tài quân sự và giao trọng trách cho Võ Nguyên Giáp thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tổ chức tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam với phương châm “chính trị trọng hơn quân sự”. Trong điều kiện mới thành lập chỉ có 34 chiến sĩ, vũ khí trang bị còn thô sơ, nhưng với tinh thần kiên trung của người cộng sản, được sự chỉ đạo trực tiếp của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp đã chỉ huy đánh thắng hai trận đầu giành thắng lợi, tiêu diệt đồn Phai Khắt, Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống quyết chiến, quyết thắng của Quân đội nhân dân Việt Nam.

Trên cương vị là Ủy viên Ban chấp hành Trung ương, Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành viên Ủy ban khởi nghĩa toàn quốc, thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Tư lệnh Việt Nam giải phóng quân, Võ Nguyên Giáp tiếp tục phát huy ý chí kiên trung của người cộng sản, cống hiến cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và có đóng góp quan trọng vào thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám năm 1945, lập nên Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước dân chủ công nông đầu tiên ở Đông Nam Á.

Với vai trò là Tổng Tư lệnh quân đội, kiêm Bí thư Quân ủy Trung ương, ý chí, tinh thần của người cộng sản kiên trung hòa quyện với bản lĩnh, trí tuệ của vị Đại tướng đã tỏa sáng trong cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp (1946 - 1954). Điều đó thể hiện rõ trong việc Đại tướng đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh tin tưởng trao quyền trực tiếp chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ với lời căn dặn của Người: “Tổng Tư lệnh ra mặt trận, “Tướng quân tại ngoại”! Trao cho chú toàn quyền. Có vấn đề gì khó khăn, bàn bạc thống nhất trong Đảng ủy, thống nhất với cố vấn thì cứ quyết định, rồi báo cáo sau”. “Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng. Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh”(1). Đây không chỉ là sự tin tưởng tuyệt đối của Đảng và Bác Hồ, mà còn đòi hỏi ở Đại tướng một ý chí, tinh thần thép, bản lĩnh của người cộng sản, trí tuệ và tính quyết đoán và đưa ra quyết định sắc sảo của người chỉ huy cao nhất trong Chiến dịch. Chính nhiệm vụ cao cả, thiêng liêng ấy đã thôi thúc Đại tướng dồn hết tâm lực, trí lực cho đánh thắng trận quyết chiến chiến lược và giành thắng lợi trong Chiến dịch Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” vào tháng 5 năm 1954, buộc thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơnevơ về đình chiến, khôi phục hòa bình ở Đông Dương, giải phóng hoàn toàn miền Bắc nước ta.

Hiệp định Giơnevơ ký kết chưa được bao lâu thì đế quốc Mỹ đã nhanh chóng hất cẳng Pháp, biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Trước tình hình cách mạng mới, Đại tướng đã cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ xâm lược. Trong cuộc kháng chiến đầy cam go, phải đối đầu với tên đế quốc sừng sỏ nhất, thì bản lĩnh, trí tuệ của người chiến sĩ cộng sản ở Đại tướng Võ Nguyên Giáp càng được phát huy, với những đòn “cân não” quyết liệt để làm nên chiến thắng. Với tinh thần cách mạng tiến công, khi thời cơ giành thắng lợi đã đến, Đại tướng chỉ đạo “Thần tốc, thần tốc hơn nữa. Táo bạo, táo bạo hơn nữa. Tranh thủ từng giờ, từng phút. Xốc tới giải phóng miền Nam. Quyết chiến và quyết thắng”(2) trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, thu non sông về một mối, đưa cả nước tiến lên chủ nghĩa xã hội.

 

Đại tướng Võ Nguyên Giáp và các tướng lĩnh tại Tổng hành dinh trong ngày toàn thắng

Mặc dù đã chỉ huy Quân đội ta đánh thắng thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập tự do cho dân tộc và được Đảng, Nhà nước, Quân đội giao phó nhiều trọng trách, nhưng Đại tướng Võ Nguyên Giáp luôn giữ vững phẩm chất cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản kiên trung, tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, suốt đời tận tụy hy sinh, một lòng, một dạ phấn đấu cho mục tiêu lý tưởng cộng sản, vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của dân tộc Việt Nam. Bất luận trong hoàn cảnh nào, dù thuận lợi hay khó khăn, Đại tướng luôn tin tưởng, thủy chung, sắt son với Đảng, với Nhân dân, với Quân đội và trở thành người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

------------------

Tài liệu tham khảo:

- (1). Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin, 60 năm chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ bản hùng ca bất diệt của thế kỷ XX, Hà Nội, 2013, tr.34.

- (2). Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổng cục Chính trị, Tổng kết Công tác đảng, công tác chính trị trong chiến dịch, chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam, tập 2 (1954 - 1975), Nxb QĐND, Hà Nội, 2014, tr.627.


Tác giả: HSDH. Nguyễn Sỹ Họa
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?