• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 115
Tháng 02 : 3.899
Tháng trước : 35.800
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Những thành tựu nổi bật trong 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới của đất nước trong 40 năm qua đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, góp phần làm cho “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử được thể hiện trên cả phương diện nhận thức lý luận và thực tiễn có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước trong kỷ nguyên mới.

1. Trên phương diện nhận thức lý luận

Qua 40 năm đổi mới, nhận thức lý luận về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có sự chuyển biến, phát triển mang tính bước ngoặt. Nền tảng tư tưởng của Đảng có sự phát triển. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII (1991), Đảng ta đã xác định tư tưởng Hồ Chí Minh là một bộ phận trong nền tảng tư tưởng của Đảng: “Đảng lấy chủ nghĩa Mác -Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động”. Các nguyên tắc tổ chức, hoạt động của Đảng trong tình hình mới được bổ sung, phát triển. Nhận thức về mối quan hệ giữa xây dựng, chỉnh đốn Đảng và xây dựng, chỉnh đốn hệ thống chính trị ngày càng phát triển, hoàn thiện, gắn liền hai mặt công tác này với nhau. Nhận thức về vị trí, vai trò, thẩm quyền và trách nhiệm của Đảng, những nguy cơ lớn đối với Đảng cầm quyền ngay càng đầy đủ, khách quan.

Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội: “Xác lập mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam với 3 trụ cột nền tảng: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa”. Từng bước khắc phục một số quan niệm đơn giản trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ, không thừa nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản. Nhận thức về bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa được thống nhất, đó là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học, phát triển.

Nhận thức về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng đầy đủ hơn. Đó là mô hình phát triển tổng quát của nền kinh tế Việt Nam, gắn kết hài hòa kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển; không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.

Nhận thức của Đảng về văn hóa ngày càng toàn diện, đầy đủ và sâu sắc hơn. Đảng ta xác định: Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là sức mạnh nội sinh, động lực quan trọng để phát triển đất nước; xác định phát triển văn hóa đồng bộ, hài hòa với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, thể hiện tính ưu việt của chế độ ta. Văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội; làm cho văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội, là sức mạnh nội sinh quan trọng, bảo đảm sự phát triển bền vững và bảo vệ vững chắc Tổ quốc, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng và văn minh.

Tư duy, phương hướng triển khai các hoạt động đối ngoại liên tục có sự đổi mới để phù hợp với yêu cầu cụ thể của đất nước trong mỗi giai đoạn, được khái quát, thể hiện qua nghệ thuật “ngoại giao cây tre”. Tư duy trong định vị đất nước được đổi mới từ “muốn là bạn” sang “sẵn sàng là bạn” và “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Đảng ta đã đưa ra quan điểm mới về “đối tác - đối tượng” và “hợp tác - đấu tranh”, thể hiện sự mềm dẻo, linh hoạt trong chiến lược ngoại giao, nhằm gia tăng điểm tương đồng, hóa giải sự khác biệt trong thúc đẩy quan hệ với các nước. Từ đó, đối ngoại góp phần vào nỗ lực chung giải quyết những vấn đề đặt ra cả về đối ngoại lẫn đối nội, an ninh và phát triển, đặc biệt hóa giải từ sớm, từ xa mọi nguy cơ đối với đất nước và tạo dựng cũng như tận dụng mọi nguồn lực từ bên ngoài cho đất nước.

Sự phát triển tư duy, nhận thức về quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc được thể hiện trên nhiều mặt, nhưng có thể khái quát đó là sự phát triển “từ tư duy quân sự là chủ yếu đến tư duy về quốc phòng là cơ bản”. Đây là sự đổi mới cần thiết và phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, được thể hiện ở một số nội dung chủ yếu sau: Từ tư duy, nhận thức về xác định kẻ thù đến tư duy, nhận thức về xác định đối tác, đối tượng; từ mục tiêu đánh thắng trong các cuộc chiến tranh đến mục tiêu bảo vệ Tổ quốc mà không cần phải tiến hành chiến tranh; từ phương châm chuẩn bị tiến hành chiến tranh đến phương châm ngăn chặn, đẩy lùi các nguy cơ xung đột và chiến tranh, thực hiện bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; từ tư duy, nhận thức về phương thức đấu tranh vũ trang là chủ yếu đến tư duy, nhận thức kết hợp đấu tranh vũ trang với đấu tranh phi vũ trang, nhấn mạnh phương thức đấu tranh phi vũ trang; trong xây dựng tiềm lực chính trị - tinh thần đã nhấn mạnh đến xây dựng “thế trận lòng dân” và “xây dựng Quân đội nhân dân, Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, hiện đại” nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN trong mọi tình huống.

2. Trên phương diện nhận thức thực tiễn

Kinh tế - xã hội ngày càng phát triển, đời sống của nhân dân được cải thiện và ngày càng được nâng cao.

Trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt, tỉ lệ lạm pháp có lúc lên đến 774,7%, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu lương thực triền miên, khoảng ¾ dân số sống ở mức nghèo khổ. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trung bình khoảng gần 7% mỗi năm. Nếu xét về quy mô, nền kinh tế của nước ta đứng thứ 5 trong khu vực ASEAN và thứ 35 trong 40 nền kinh tế lớn nhất trên thế giới. Việt Nam đã trở thành đối tác thương mại lớn thứ 22 toàn cầu. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Có thể thấy rằng, từ một nước nghèo đói, lạc hậu, đến nay, quy mô nền kinh tế của nước ta không ngừng được mở rộng. Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008 và sẽ trở thành nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 (khoảng 7.500 USD). Xuất khẩu năm 1990 chưa được 1 tỉ USD, thì đến năm 2025, xuất khẩu Việt Nam thiết lập kỷ lục mới với kim ngạch ước đạt khoảng 475 tỷ USD, tăng 17% so với 2024, đưa tổng kim ngạch xuất nhập khẩu vượt mốc 930 tỷ USD. Phát triển kinh tế số được chú trọng. Đẩy mạnh chuyển đổi từ mô hình dựa vào các yếu tố truyền thống (vốn, lao động, tài nguyên) sang mô hình dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, “đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính”.

Văn hóa - xã hội được cải thiện đáng kể, đạt nhiều thành tựu nổi bật.

Việt Nam tập trung hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 40 năm qua. Việt Nam tập trung vào việc tăng cường y tế phòng ngừa, phòng, chống dịch bệnh, hỗ trợ các đối tượng có hoàn cảnh khó khăn. Người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Đời sống văn hóa cũng được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Việt Nam được đánh giá là một trong những quốc gia đi đầu trong việc hiện thực hóa các mục tiêu Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc.

Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị ngày càng trong sạch, vững mạnh.

Mô hình chính trị và cơ chế vận hành tổng quát ở nước ta là “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu như: Sức mạnh đại đoàn kết dân tộc được củng cố; dân chủ xã hội chủ nghĩa tiếp tục được phát huy. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ, quyết liệt, có hiệu quả rõ rệt. Đặc biệt, cuộc cách mạng về sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả đã đạt được những kết quả mang tính đột phá. Điều chỉnh địa giới hành chính cấp tỉnh, tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, sáp nhập đơn vị hành chính cấp xã, với quy mô lớn nhất trong lịch sử hiện đại, hoàn thành trước 5 năm theo nghị quyết đề ra, phản ánh quyết tâm cải cách tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị một cách căn bản, mạnh mẽ, có ý nghĩa lịch sử. Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có nhiều tiến bộ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả hơn; bảo đảm thực hiện đồng bộ các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động, chủ động tham gia giám sát và phản biện xã hội; làm tốt vai trò cầu nối giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Quốc phòng, an ninh được giữ vững, tăng cường, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa trong tình hình mới.

Đất nước ta tiến hành đổi mới trong bối cảnh thế giới có những biến động to lớn, diễn biến nhanh chóng, phức tạp, khó lường; các thế lực thù địch tăng cường chống phá cách mạng, nhưng nền quốc phòng, an ninh nước ta luôn vững vàng, không ngừng được củng cố và phát triển. Tiềm lực quốc phòng và an ninh được tăng cường; thế trận lòng dân được chú trọng; thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân, nhất là trên các địa bàn chiến lược, trọng điểm, được củng cố vững chắc. Kết hợp có hiệu quả quốc phòng, an ninh với kinh tế, văn hoá, xã hội trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh hợp tác và hội nhập quốc tế về quốc phòng, an ninh, tham gia tích cực và hiệu quả vào việc gìn giữ hoà bình của Liên hợp quốc. Chủ động đấu tranh kịp thời, hiệu quả, từng bước đẩy lùi các loại tội phạm; phòng ngừa và ứng phó kịp thời với các mối đe doạ an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống; làm thất bại âm mưu và hoạt động “diễn biến hoà bình”, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch, phản động.

Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao.

Từ một nước bị bao vây, cấm vận, đến nay nước ta đã mở rộng, làm sâu sắc thêm quan hệ ngoại giao với 194 nước, thiết lập quan hệ bình thường với tất cả nước lớn, các Ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc. Tính tới hết năm 2025, Việt Nam có 3 nước quan hệ đặc biệt, 14 đối tác Chiến lược Toàn diện; 17 đối tác Chiến lược và 13 Đối tác Toàn diện; có quan hệ kinh tế, thương mại với hơn 230 đối tác. Đảng Cộng sản Việt Nam thiết lập quan hệ đối ngoại Đảng với 254 chính đảng ở 114 quốc gia. Ở hầu hết các tổ chức, diễn đàn quốc tế quan trọng, đảm nhiệm thành công nhiều trọng trách, ghi đậm dấu ấn về sự chủ động, tích cực trong các vai trò được đảm trách. Mặc dù môi trường bên ngoài biến động, Việt Nam tiếp tục nổi lên là một “điểm sáng” hòa bình, ổn định và phát triển ở khu vực; Việt Nam được thế giới đánh giá là “ngôi sao sáng của châu Á”, được xếp vào tốp 16 nền kinh tế mới nổi thành công nhất thế giới.

Những thành tựu sau 40 đổi mới đất nước khẳng định đường lối đổi mới của Đảng ta là đúng đắn, sáng tạo; củng cố thêm niềm tin của người dân đối với Đảng. Trước sự phát triển, vận động không ngừng của thực tiễn, Việt Nam đang phải đối mặt với những thách thức mới trong quá trình phát triển đất nước. Do đó, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân cần phát huy thật tốt những kết quả, bài học kinh nghiệm đã có, khắc phục những hạn chế, yếu kém còn tồn tại, tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, nỗ lực phấn đấu, tranh thủ mọi thời cơ, thuận lợi; vượt qua mọi khó khăn, thách thức, để triển khai thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra, vững bước tự tin bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

H.M.C


Tác giả: CTD. Hồ Mạnh Cường
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?