• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Giáo dục chính trị
Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 9
Tháng 04 : 4.986
Tháng trước : 23.032
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Nhìn lại chặng đường 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng

Quân đội ta từ nhân dân mà ra, được Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh tổ chức xây dựng, giáo dục, rèn luyện. Chặng đường 75 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân Việt Nam đã tô thắm lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc, làm rạng rỡ thời đại Hồ Chí Minh. Hình ảnh những người lính " Bộ đội Cụ Hồ"  còn in đậm mãi trong lòng của mỗi người dân Việt Nam qua nhiều thế hệ, trong suy nghĩ của bạn bè quốc tế; đó là những người lính anh hùng của Quân đội anh hùng được xây dựng, trưởng thành và phát triển trong một đất nước, một dân tộc anh hùng.

Cuối tháng 10/1944, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc từ Trung Quốc trở về Hà Quảng, Cao Bằng. Sau khi phân tích tình hình cách mạng ở trong nước, Người trực tiếp giao cho đồng chí Võ Nguyên Giáp tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, trang bị những vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang để hoạt động và lập đội quân giải phóng.

Ngày 22/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân đư­ợc thành lập tại khu rừng giữa tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám (nay thuộc tỉnh Cao Bằng) có 34 chiến sĩ, được chia thành 3 tiểu đội. Đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì buổi lễ thành lập và thay mặt Đoàn thể đọc diễn văn tuyên bố thành lập. Đồng chí Hoàng Sâm được cử làm Đội trưởng. Đồng chí Xích Thắng (Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên. Đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách công tác kế hoạch – tình báo.(*­­)

Thực hiện lời dạy của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc: "Trong một tháng phải có hoạt động, trận đầu nhất định phải thắng", ngày 25/12/1944, Đội Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân tiến công đồn Phai Khắt; ngày 26/12/1944 tiến công đồn Nà Ngần. Cả hai trận đánh đầu tiên, ta đều giành thắng lợi mở ra truyền thống "quyết chiến, quyết thắng", của Quân đội ta.

Tháng 3/1945, Thường vụ Trung ương họp mở rộng và ra Chỉ thị "Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta". Tháng 4/1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị Quân sự cách mạng Bắc Kỳ, quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang cả nước (Việt Nam Tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân...) thành Việt Nam giải phóng quân.

Từ tháng 4/1945, cao trào kháng Nhật cứu nước, phong trào vũ trang khởi nghĩa, khởi nghĩa từng phần đã giành thắng lợi ở nhiều nơi. Ngày 15/5/1945, sau buổi lễ thống nhất tại Định Biên Thượng, Định Hóa, Thái Nguyên, đồng chí Võ Nguyên Giáp trở thành Tư lệnh các lực lượng vũ trang thống nhất, mang tên Việt Nam giải phóng quân.

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, Việt Nam giải phóng quân được đổi tên thành Vệ Quốc quân. Năm 1946, Vệ Quốc quân đổi tên thành Quân đội Quốc gia Việt Nam. Năm 1950, đổi tên thành Quân đội nhân dân Việt Nam.

Ngày 19/12/1946, kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Với tinh thần "Cảm tử cho Tổ quốc quyết sinh", cuộc chiến đấu ở Thủ đô Hà Nội và các thành phố, thị xã đã tiêu hao, tiêu diệt và giam chân một lực lượng lớn quân địch, tạo điều kiện cho cả nước chuyển vào kháng chiến lâu dài.

Ngày 7/10/1947, Pháp huy động hơn 12.000 quân có máy bay, tàu chiến hỗ trợ, mở cuộc tiến công lớn lên Việt Bắc, hòng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo kháng chiến và bộ đội chủ lực của ta. Quân ta đã liên tiếp phản công tiêu diệt địch, làm nên thắng lợi của Chiến dịch Việt Bắc. Đây là thắng lợi quy mô lớn đầu tiên của quân và dân ta, làm phá sản chiến lược "đánh nhanh, thắng nhanh"của thực dân Pháp.

Tháng 6/1950, ta mở Chiến dịch Biên giới nhằm tiêu diệt sinh lực địch, giải phóng một phần biên giới, mở đ­ường thông với các n­ước xã hội chủ nghĩa, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc. Vừa chiến đấu, vừa xây dựng, từ 1949 - 1952, Quân đội ta đã thành lập được nhiều đại đoàn chủ lực, như: Đại đoàn 304, 308, 316, 325 và Đại đoàn công pháo 351. Tháng 9/1953, Bộ Chính trị quyết định mở cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 -1954. Với 5 đòn tiến công chiến lược, quân và dân ta đã tiêu diệt nhiều sinh lực địch, giải phóng nhiều vùng đất đai rộng lớn, nắm quyền chủ động trên các chiến trường Đông Dương và làm phá sản âm mưu tập trung lực lượng cơ động của Na-va, buộc chúng phải căng ra đối phó ở khắp nơi.

Ngày 6/12/1953, Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Điện Biên Phủ. Sau 55 ngày đêm chiến đấu vô cùng dũng cảm, kiên cường, mưu trí, sáng tạo, quân và dân ta đã đập tan toàn bộ tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ cùng với thắng lợi trên các chiến trường khác đã góp phần giáng đòn quyết định làm thất bại kế hoạch Na-va, đồng thời có ý nghĩa quyết định kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, trực tiếp dẫn đến thắng lợi của Hội nghị Giơnevơ về Đông Dương, buộc Pháp phải công nhận độc lập dân tộc, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. Chiến thắng Điện Biên Phủ chấm dứt hoàn toàn ách xâm lược của thực dân Pháp trên đất nước ta và các nước trên bán đảo Đông Dương.

Sau năm 1954, miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, cải cách ruộng đất, phát triển sản xuất, khôi phục kinh tế đã tạo ra những chuyển biến to lớn về kinh tế, chính trị, xã hội, là chỗ dựa và hậu phương lớn của cuộc cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân. Ở miền Nam, Mỹ ra sức xây dựng ngụy quân, chỉ huy chính quyền Ngô Đình Diệm đàn áp đẫm máu những người yêu nước, hô hào "Bắc tiến", "lấp sông Bến Hải"; mở các chiến dịch lớn trả thù những người kháng chiến, thẳng tay thi hành cái gọi là "Quốc sách tố cộng, diệt cộng", "Luật 10/59"...

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 15 (tháng 1 năm 1959) xác định con đường, mục tiêu, phương pháp cách mạng ở miền Nam, mối quan hệ giữa 2 chiến lược cách mạng ở 2 miền Nam - Bắc, giữa cách mạng Việt Nam và cách mạng thế giới. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, ngày 28/8/1959 nhân dân nhiều xã trong huyện Trà Bồng (Quảng Ngãi) nổi dậy giành chính quyền. Ngày 17/01/1960, nhân dân các huyện Mỏ Cày, Minh Tân, Thạnh Phú tỉnh Bến Tre nhất loạt nổi dậy, phá thế kìm kẹp, tạo nên phong trào "Đồng khởi" lan rộng ra nhiều tỉnh ở Nam Bộ, Khu 5.

Từ phong trào "Đồng khởi", lực lượng vũ trang và hệ thống chỉ huy quân sự các cấp của ta từng bước hình thành. Ngày 20/12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam được thành lập.

Cuối năm 1960, hình thức thống trị bằng chính quyền tay sai độc tài phát xít Ngô Đình Diệm bị thất bại, đế quốc Mỹ đã thực hiện chiến lược "Chiến tranh đặc biệt". Chúng đưa tiền của, vũ khí và cố vấn vào miền Nam, chỉ huy quân đội ngụy tiến hành chiến tranh, càn quét, dồn dân, theo chiến thuật "tát nước bắt cá". Với kinh nghiệm đấu tranh, quân và dân miền Nam đã sáng tạo ra hình thức tiến công “hai chân (quân sự, chính trị), ba mũi (quân sự, chính trị, binh vận), ba vùng (rừng núi, đồng bằng, thành thị)”, tiến hành thắng lợi một số chiến dịch quy mô nhỏ và vừa (Bình Giã, Ba Gia, Đồng Xoài), tiêu diệt nhiều sinh lực và phương tiện kỹ thuật của địch, đẩy ngụy quyền Sài Gòn rơi vào tình trạng khủng hoảng triền miên.

Ngày 5/8/1964, Mỹ mở cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân, đánh ồ ạt các khu vực sông Gianh (Quảng Bình), Cửa Hội (thành phố Vinh), Lạch Trường (Thanh Hoá), Bãi Cháy (Quảng Ninh). Các đơn vị hải quân, phòng không, dân quân tự vệ đã nâng cao cảnh giác, hiệp đồng chặt chẽ, mưu trí dũng cảm, chiến đấu ngoan cường, bắn rơi nhiều máy bay, bắt sống nhiều giặc lái Mỹ. Ngày 5/8 trở thành ngày truyền thống đánh thắng trận đầu của Bộ đội Hải quân nhân dân Việt Nam.

Chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" bị phá sản, đế quốc Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược "Chiến tranh cục bộ". Từ giữa 1965 đến 1967, chúng đưa vào miền Nam hơn nửa triệu quân Mỹ và quân đội một số nước chư hầu, đồng thời sử dụng không quân và hải quân mở chiến dịch “Sấm rền”, đánh phá ác liệt nhằm "đưa miền Bắc trở lại thời kỳ đồ đá", ngăn chặn chi viện từ miền Bắc và quốc tế vào miền Nam.

Quân và dân miền Bắc đã anh dũng chiến đấu, đánh trả không quân, hải quân địch, giành những thắng lợi lớn. Trong 4 năm (1964-1968), quân và dân miền Bắc đã bắn rơi 3.243 máy bay các loại, bắt sống nhiều giặc lái, bắn chìm và bắn cháy 143 tàu chiến(*­­).

Hội nghị lần thứ 11(3/1965), lần thứ 12 (12/1965), Trung ương Đảng hạ quyết tâm động viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

Trên chiến trường miền Nam, vừa xây dựng, vừa chiến đấu, lực lượng vũ trang quân giải phóng đã tổ chức các đợt tiến công, bẻ gãy nhiều cuộc hành quân quy mô lớn của Mỹ - ngụy. Mở đầu là chiến thắng Núi Thành, Quảng Nam (26/5/1965), đập tan hai cuộc phản công chiến lược mùa khô (1965 - 1966, 1966 - 1967) làm thất bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" của Mỹ.

Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 của quân và dân ta thực sự là "một đòn sét đánh" đối với bọn trùm xâm lược Mỹ, làm chấn động dư luận thế giới.

Thất bại trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", dùng người Việt đánh người Việt, mở rộng chiến tranh ra toàn Đông Dương. Đầu năm 1972, quân và dân ta mở cuộc tiến công chiến lư­ợc trên toàn miền Nam, làm thay đổi so sánh lực lượng và thay đổi cục diện chiến tranh, dồn Mỹ và ngụy quyền Sài Gòn vào thế yếu trầm trọng hơn.

Với tinh thần dũng cảm, bằng cách đánh mưu trí, linh hoạt, quân và dân miền Bắc đã đánh thắng cuộc tập kích chiến lược lần thứ hai bằng B52 của Mỹ, lập nên trận "Điện Biên Phủ trên không" trên bầu trời Hà Nội bắn rơi hơn 600 máy bay, trong đó có chiếc thứ 4.000 bị bắn rơi trên miền Bắc, bắn chìm và bắn cháy gần 100 tàu chiến Mỹ.

Thắng lợi to lớn của quân và dân ta trên cả hai miền Nam - Bắc, buộc Mỹ phải ký kết "Hiệp định Pari về chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam" (27/01/1973), cam kết tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam, chấm dứt dính líu về quân sự, rút hết quân Mỹ và quân chư hầu ra khỏi miền Nam.

Sau hiệp định Pari được ký kết, đế quốc Mỹ tăng cư­ờng viện trợ quân sự, điều khiển chính quyền của Nguyễn Văn Thiệu, ra sức củng cố ngụy quân, ngụy quyền, mở các cuộc hành quân "tràn ngập lãnh thổ" lấn chiếm vùng giải phóng. Tại Hội nghị Bộ Chính trị tháng 10/1974 và đầu năm 1975, Đảng ta đã đánh giá so sánh lực lượng và đề ra quyết tâm giải phóng miền Nam. Chúng ta đã tập trung xây dựng các đơn vị chủ lực Quân đoàn 1, 2, 3, 4 và Đoàn 232, đánh dấu bước phát triển mới của Quân đội ta cả về quy mô tổ chức, trang bị, vũ khí, kỹ thuật, có đủ khả năng mở các chiến dịch với quy mô lớn trên các hướng chiến lược, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ giải phóng miền Nam.

Quân và dân ta đã chủ động tiến công giải phóng Phư­ớc Long (6/1/1975). Ngày 4/3/1975, ta mở Chiến dịch Tây Nguyên. Ngày 10/3/1975, giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột. Tiếp đó từ ngày 14/3/1975 đến ngày 3/4/1975 quân ta giải phóng hoàn toàn tỉnh Kon Tum, Gia Lai và toàn bộ Tây Nguyên. Ngày 19/3/1975, ta giải phóng Quảng Trị. 

Ngày 24/3/1975, giải phóng Quảng Nam, Quảng Ngãi. Ngày 25/3/1975, giải phóng Huế. Ngày 29/3/1975, giải phóng Đà Nẵng. Ngày 1/4/1975, giải phóng Bình Định, Phú Yên. Ngày 3/4/1975, giải phóng Khánh Hoà nối liền vùng giải phóng từ Tây Nguyên, Trị Thiên và các tỉnh Trung Bộ(*­­).

Ngày 14/4/1975 Bộ Chính trị quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh, giải phóng Sài Gòn - Gia Định và giải phóng hoàn toàn miền Nam. Thực hiện tư tưởng chỉ đạo "Thần tốc, táo bạo, bất ngờ, chắc thắng", các đơn vị chủ lực của quân đội ta đã thực hiện cuộc hành quân thần tốc, từ các hướng tiến về giải phóng Sài Gòn. Bằng sức mạnh tiến công mạnh mẽ của 5 cánh quân chủ lực, 17 giờ ngày 26/4/1975, các lực lượng của ta trên tất cả 5 hướng chiến dịch đều nổ súng tiến công.

11 giờ 30 phút ngày 30/4/1975, cờ giải phóng đã tung bay trước tòa nhà chính "Dinh Độc Lập". Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử toàn thắng. Trong hai ngày 30/4 và mùng 01/5/1975, bộ đội chủ lực và lực lượng vũ trang các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, các Quân khu 8, 9 nắm thời cơ phát động quần chúng nhân dân nổi dậy, tiêu diệt và làm tan rã hàng ngũ địch, giải phóng hoàn toàn các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, giải phóng vùng biển, đảo của Tổ quốc.

Tháng 4/1977, tập đoàn Pôn Pốt-Iêngxari đã phát động cuộc chiến tranh xâm lược biên giới Tây Nam nước ta. Mùa khô năm 1978, chúng huy động nhiều sư đoàn mở cuộc tiến công trên toàn tuyến biên giới. Trước tình hình đó, Đảng ta chủ trương tập trung lực lượng giành thắng lợi ở biên giới Tây Nam, sẵn sàng đối phó với các tình huống, kiên quyết đánh bại mọi kẻ thù xâm lược, bảo vệ vững chắc Tổ quốc, bảo vệ thành quả cách mạng của nhân dân ta. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta trên toàn tuyến biên giới Tây Nam đẩy mạnh phản công và tiến công, đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của tập đoàn phản động Pôn Pốt-Iêngxari, đuổi chúng về bên kia biên giới. Với sự giúp đỡ to lớn của Quân tình nguyện Việt Nam, ngày 07/01/1979, các lực lượng vũ trang cách mạng và nhân dân Campuchia đã đánh đổ chế độ diệt chủng Pôn Pốt-Iêngxari, hồi sinh, tái thiết đất nước.

Ngày 17 tháng 02 năm 1979, chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra, với tinh thần yêu nước, truyền thống đánh giặc giữ nước của ông cha ta, quân và dân ta đã giành thắng lợi trong cuộc chiến đấu bảo vệ biên giới thiêng liêng của Tổ quốc.

Ngày 17/10/1989, Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá VI) quyết định lấy ngày 22/12 là ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, đồng thời là Ngày hội Quốc phòng toàn dân.

Trong giai đoạn cách mạng mới của đất nước, Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng đề ra phương hướng nhiệm vụ xây dựng Quân đội, củng cố quốc phòng; triển khai quân đội làm hai nhiệm vụ chiến lược sẵn sàng chiến đấu và xây dựng kinh tế. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó: Bảo vệ vững chắc Tổ quốc, độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ an ninh chính trị, an ninh kinh tế, an ninh tư tưởng văn hoá và an ninh xã hội; duy trì trật tự kỷ cương, an toàn xã hội; giữ vững ổn định chính trị đất nước; ngăn ngừa, đẩy lùi và làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá của các thế lực thù địch.

Chủ động và kiên quyết thực hiện tốt nhiệm vụ cấp bách hàng đầu là phòng chống chiến lược "diễn biến hòa bình", bạo loạn lật đổ, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và làm thất bại mọi âm mưu và hành động phá hoại của các thế lực thù địch, các phần tử cơ hội, phản động bảo vệ vững chắc chủ quyền, lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ và thành quả cách mạng của nhân dân. Cùng với nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, Quân đội đã tham gia phòng chống thiên tai, bão lụt, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, hình ảnh và phẩm chất cao đẹp "Bộ đội Cụ Hồ" ngày càng toả sáng.

Trong nhiệm vụ xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân, Quân đội ta đã giữ vững vai trò là lực lượng nòng cốt, tích cực tham gia củng cố, xây dựng cơ sở chính trị địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, địa bàn biên giới, hải đảo.

Trong công tác xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, những năm gần đây, các cơ quan, đơn vị trong toàn quân đã thực hiện tốt công tác huấn luyện, bám sát phương châm "cơ bản, thiết thực, vững chắc" sát với yêu cầu nhiệm vụ chiến đấu bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với biên chế tổ chức, trang bị và cách đánh của ta; coi trọng nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ sĩ quan; đẩy mạnh các hoạt động nghiên cứu khoa học quân sự và tiến độ nghiên cứu biên soạn hoàn thiện hệ thống giáo trình, giáo khoa, tài liệu huấn luyện thống nhất trong toàn quân, đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Đối với nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế, Quân đội ta đã đạt những thành tựu mới trên tất cả các lĩnh vực: Nghiên cứu khoa học, chế tạo, sản xuất, sửa chữa, ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào lĩnh vực quốc phòng. Các ngành công nghiệp quốc phòng, hậu cần, kỹ thuật, dịch vụ...của Quân đội từng bước được đổi mới và phát triển. Quân đội ta đã sản xuất được nhiều trang bị, vũ khí kỹ thuật, đồ dùng thiết yếu phục vụ cho nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và sản xuất các mặt hàng dân dụng phục vụ đời sống của bộ đội và nhân dân. Nhiều doanh nghiệp trong Quân đội đã khẳng định vị thế trên thị trường như: Công ty Tân cảng Sài Gòn, Công ty Viễn thông Quân đội, Tổng công ty bay dịch vụ Việt Nam, Tổng công ty xây dựng Trường Sơn, Binh đoàn 15...góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế của đất nước, từng bước điều chỉnh, bố trí lực lượng, tạo thế chủ động trên các địa bàn chiến lược, giải quyết chính sách hậu phương, quân đội.

75 năm qua, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, được sự giúp đỡ tận tình của các bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và các địa phương, sự chăm sóc, nuôi dưỡng, đùm bọc của nhân dân cả nước, Quân đội nhân dân Việt Nam vừa xây dựng, vừa chiến đấu và trưởng thành, xây đắp nên truyền thống rất vẻ vang:

1. Trung thành vô hạn với Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, với Đảng, Nhà nước và nhân dân.

2. Quyết chiến, quyết thắng, biết đánh và biết thắng.

3. Gắn bó máu thịt với nhân dân, quân với dân một ý chí.

4. Đoàn kết nội bộ, cán bộ, chiến sĩ bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ, thương yêu giúp đỡ nhau, trên dưới đồng lòng, thống nhất ý chí và hành động.

5. Kỷ luật tự giác nghiêm minh.

6. Độc lập tự chủ, tự lực, tự cường, cần kiệm xây dựng quân đội, xây dựng đất nước, tôn trọng và bảo vệ của công.

7. Lối sống trong sạch lành mạnh, có văn hoá, trung thực, khiêm tốn, giản dị, lạc quan.

8. Luôn luôn nêu cao tinh thần ham học, cầu tiến bộ.

9. Đoàn kết quốc tế trong sáng, thủy chung, chí nghĩa, chí tình.

Kỷ niệm 75 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, 30 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân là dịp để chúng ta ôn lại lịch sử, truyền thống vẻ vang, những chiến công oanh liệt của Quân đội và nhân dân ta. Qua đó khơi dậy niềm tự hào, tự tôn dân tộc, nâng cao lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, ý chí quật cường, ý thức tự lực, tự cường vượt qua mọi khó khăn, thử thách, ra sức xây dựng nền Quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn mới của cách mạng; góp phần xứng đáng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

L.Đ.Đ

* Nguồn QĐND


Tác giả: KSPQS. Lương Đức Đại
Nguồn: Học viện Lục quân
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?