Tập kích hỏa lực vào căn cứ Dốc Miếu, trận đánh điển hình của pháo binh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước
Dốc Miếu là chốt quân sự của thực dân Pháp, được xây dựng từ năm 1947 để kiểm soát Quốc lộ 1. Đến năm 1967 Mỹ mở rộng thành căn cứ hành quân và căn cứ pháo binh lớn. Lực lượng thường xuyên trong căn cứ có 1 tiểu đoàn bộ binh, 1 tiểu đoàn pháo binh (20 khẩu pháo 105mm và 175mm), 30 xe tăng và xe bọc thép. Về chiến lược, căn cứ Dốc Miếu là "con mắt thần", là vọng gác tiền tiêu của tuyến phòng thủ Đường 9, vừa bảo vệ tung thâm, vừa bảo vệ sở chỉ huy các căn cứ ở Đông Hà, Cồn Tiên, Điểm cao 241, Cửa Việt. Về chiến thuật, Dốc Miếu là vị trí quan trọng trong thế chân kiềng (Dốc Miếu - Cồn Tiên - Đông Hà) có thể khống chế, ngăn chặn quân ta ở phía Bắc vĩ tuyến 17.
Trước khi bị ta tập kích, pháo binh địch thường xuyên bắn vào các làng xã ở bờ Bắc sông Bến Hải, đạn pháo phá nát hoa màu, làm cháy nhà dân. Đặc biệt từ ngày 22/02 đến 20/3/1967 chúng đã bắn hơn 200 lần với hàng nghìn quả đạn pháo các cỡ vào 36 thôn, xóm, làm chết hơn 30 người thuộc 12 xã của huyện Vĩnh Linh, tỉnh Quảng Trị.
Xác xe tăng địch trong Khu di tích Quân sự Dốc Miếu
Để ngăn chặn pháo binh địch, Bộ tư lệnh Quân khu 4 giao nhiệm vụ cho Trung đoàn pháo binh 164 và Khu đội Vĩnh Linh sử dụng pháo binh tập kích hỏa lực vào căn cứ Dốc Miếu. Thực hiện nhiệm vụ của Bộ Tư lệnh giao, Trung đoàn pháo binh 164, sử dụng 2 tiểu đoàn với 20 khẩu pháo xe kéo (9 khẩu pháo lựu 105mm, 11 khẩu pháo 100mm); đồng thời, được phối thuộc đại đội cối 82mm (6 khẩu) của Khu đội Vĩnh Linh và 16 dân quân xã Vĩnh Sơn. Đây là các đơn vị đã quen thuộc địa hình, tham gia nhiều trận pháo kích trên Đường 9, có kinh nghiệm về tổ chức chỉ huy, kỹ thuật bắn. Trên đường cơ động nhận nhiệm vụ, lại nhận được thư động viên của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trong thư Bác căn dặn: "Các chú đại diện cho lực lượng pháo binh miền Bắc xã hội chủ nghĩa đánh trả hành động leo thang phá hoại của pháo binh địch ở bờ Nam. Vì vậy, trận đầu các chú phải đánh thắng". Đây thực sự là nguồn động viên khích lệ to lớn, vì vậy mỗi cán bộ, chiến sĩ pháo binh đều thấu suốt ý nghĩa quan trọng của trận đánh, ai cũng hăng hái thi đua chuẩn bị thật tốt để lập công dâng Bác.
Ngày 17 và 19/3/1967, được sự giúp đỡ của chính quyền và nhân dân xóm Bàu, xã Vĩnh Thủy, xã Thủy Ba, các đơn vị pháo binh đã vào chiếm lĩnh trận địa đúng kế hoạch. Hai tiểu đoàn pháo xe kéo đặt trận địa ở bờ Bắc sông Bến Hải, các đài quan sát bố trí cách mục tiêu bắn từ 2 đến 3km, tổ chức thêm đài luồn sâu vào trong căn cứ Dốc Miếu và tổ trinh sát đặt trên đỉnh cột cờ phía Bắc cầu Hiền Lương; các khẩu đội cối 82mm luồn sâu, đặt trận địa sát căn cứ.
Pháo lựu 105mm của Trung đoàn 164 tham gia tập kích hỏa lực vào căn cứ Dốc Miếu
Chiều tối 20/3/1967 hệ thống đài quan sát pháo binh phát hiện địch tập trung lực lượng (tăng cường thêm 1 tiểu đoàn lính thủy đánh bộ Mĩ và 7 khẩu pháo 105mm) chuẩn bị càn quét Gio Linh. Đây là thời cơ có lợi nhất cho ta nổ súng. Đúng 18 giờ 18 phút ngày 20/3/1967 pháo ta từ các trận địa đồng loạt khai hỏa, tập trung bắn vào trung tâm căn cứ địch; cùng lúc đó, ở 4 trận địa giả, các đồng chí dân quân xã Vĩnh Sơn cũng đồng thời cho nổ bộc phá làm cho địch không phân biệt được đâu là trận địa thật, đâu là trận địa giả để phản pháo. Căn cứ Dốc Miếu chìm trong lửa đạn, các kho xăng, kho đạn của địch bốc cháy dữ dội.
Các chiến sĩ trinh sát pháo binh tại đài quan sát chỉ huy bắn
Trong đợt pháo kích này, với 1.200 viên đạn pháo và 350 viên đạn cối, ta tiêu diệt và làm bị thương hơn một nghìn tên địch, trong đó phần lớn là lính thủy quân lục chiến Mỹ, phá hỏng 17 khẩu pháo 105mm, 155mm, 175mm, 5 máy bay trực thăng và gần 60 xe quân sự các loại, làm cháy 2 kho đạn, 1 kho xăng. Chiến thắng của các đơn vị pháo binh đã làm nức lòng nhân dân hai bên bờ sông Bến Hải, đập nát “con mắt thần” của chúng bên bờ Nam, hạn chế đáng kể các loại pháo cỡ lớn tầm xa, pháo hạm và không quân của chúng bắn phá sang bờ Bắc, khu phi quân sự và một số tỉnh miền Bắc; đồng thời tạo thêm nhiều thuận lợi cho Chiến trường miền Nam.
Có thể nói, Trận tập kích hỏa lực vào căn cứ Dốc Miếu là trận đánh độc lập điển hình của pháo binh Việt Nam; là sự đoàn kết hiệp đồng chặt chẽ, nhịp nhàng giữa pháo xe kéo và pháo mang vác; giữa bộ đội chủ lực và bộ đội địa phương, dân quân du kích, nhân dân. Trận đánh phát huy tốt yếu tố bất ngờ, cách đánh và hiệu quả của từng loại vũ khí, giành thắng lợi lớn, góp phần phá vỡ âm mưu đánh phá, càn quét của địch. Sau Trận Dốc Miếu, bộ đội pháo binh được chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư khen và tặng 8 chữ vàng: "Chân đồng, vai sắt, đánh giỏi, bắn trúng".
Cán bộ, giảng viên Khoa Pháo binh, Học viện Lục quân luôn nhận thức sâu sắc rằng, những bài học kinh nghiệm quý báu về nghệ thuật sử dụng pháo binh trong chiến tranh giải phóng nói chung, Trận tập kích hỏa lực vào căn cứ Dốc Miếu nói riêng cần được nghiên cứu, truyền thụ đầy đủ đến các thế hệ học viên; để tiếp tục được vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo trong điều kiện mới của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc./.