Độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân - động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành ra đi tìm đường cứu nước ngày 5 tháng 6 năm 1911
Cách đây 115 năm, ngày mùng 5 tháng 6 năm 1911, Nguyễn Tất Thành lấy tên Văn Ba đã lên tàu Latusơ Trêvin (Latouche Tréville), bắt đầu hành trình ba mươi năm tìm đường giành độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho Nhân dân Việt Nam. Đây không chỉ là bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng cứu nước, cứu dân của Người, mà còn đánh dấu sự chuyển hướng phát triển mới của dân tộc Việt Nam. Có nhiều vấn đề cần tìm hiểu xung quanh mốc lịch sử quan trọng ấy, trong đó, vấn đề động lực thúc đẩy Nguyễn Tất Thành rời xa quê hương, Tổ quốc dấn thân vào cuộc tìm kiếm đầy cam go, thử thách để tìm ra chân lý cho dân tộc có ý nghĩa lịch sử to lớn đối với cách mạng Việt Nam. Từ người “tìm đường”, tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn và trở thành người “dẫn đường” cho dân tộc ta thoát khỏi ách thống trị, áp bức, bóc lột của đế quốc, thực dân, phong kiến, giành độc lập dân tộc, đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội, phấn đấu sánh vai với các cường quốc năm châu.

Động lực chính thúc đẩy Nguyễn Tất Thành xuất dương tìm đường cứu nước là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa hiện thực xã hội Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX với tình cảm, ý chí, trí tuệ, quyết tâm, phẩm chất, nhân cách và giúp Người đi đến quyết định táo bạo, có tính cách mạng vượt thời đại, mà những người yêu nước cùng thời không thể có - đến nước Pháp để xem người ta làm thế nào để về cứu đồng bào mình. Sinh ra trong một gia đình nhà nho yêu nước, tiến bộ và được nuôi dưỡng bởi những người thân có lòng yêu nước, thương dân sâu sắc; lớn lên trên mảnh đất địa linh nhân kiệt, quê hương giàu truyền thống cách mạng (Kim Liên - Nam Đàn - Nghệ An), Nguyễn Tất Thành đã thừa hưởng những giá trị truyền thống của quê hương, gia đình và hấp thụ những nhân tố mới của thời đại. Từ đó, đã hình thành ở Người những phẩm chất ưu tú như: lòng yêu nước, thương dân, khát khao được độc lập và với tư duy tích cực, thái độ tiến bộ đối với vận mệnh của đất nước. Ngay từ lúc mới mười ba tuổi, khi nghe những từ “Tự do - Bình đẳng - Bác ái”, cậu bé Nguyễn Sinh Cung đã bị thu hút, có ý định muốn làm quen với nền văn minh Pháp và “muốn tìm xem những gì ẩn đằng sau những chữ ấy”. Bởi, lô gíc hiển nhiên được hình thành trong tư duy của Người là ở nước Pháp xa xôi ấy, con người được tự do, bình đẳng, bác ái. Vậy, vì sao Người Pháp lại đem quân xâm lược Việt Nam và đối xử với người dân bản xứ bất công và tàn bạo đến như vậy? Từ đó, một ý tưởng mới đã xuất hiện trong tư duy của Người phải sang nước Pháp để tìm hiểu, để xem xét và trở về giúp đồng bào mình. Mặt khác, với vốn Hán học khá tinh thông - thừa hưởng từ những người thầy, nhất là cụ Hoàng Đường và cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, Người rất hiểu một đạo lý của người phương Đông nói chung, Việt Nam nói riêng “muốn bắt hổ con thì phải vào hang hổ”. Chính vì vậy, động lực chủ yếu có ý nghĩa quyết định thúc đẩy Nguyễn Ái Quốc ra đi tìm đường cứu nước đó là độc lập cho dân tộc, hạnh phúc cho Nhân dân Việt Nam.
Thực tiễn cách mạng Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, các cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, xóa bỏ mọi sự áp bức bóc lột bùng nổ khắp nơi, với nhiều phương pháp và xu hướng khác nhau. Tiêu biểu là xu hướng bạo động hướng ngoại - người đại diện là Cụ Phan Bội Châu với phong trào Đông du; xu hướng cải cách - người đại diện là Cụ Phan Chu Trinh với phong trào Đông kinh nghĩa thục, cuộc vận động Duy tân; xu hướng bạo động hướng nội bảo thủ - người đại diện là Cụ Hoàng Hoa Thám với cuộc khởi nghĩa Yên Thế… Nhưng, những cuộc đấu tranh của Nhân dân ta đều bị đàn áp và dìm trong bể máu. Cách mạng Việt Nam rơi vào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước, đòi hỏi tất yếu phải có một phương hướng cứu nước mới để giành độc lập dân tộc. Như vậy, hiện thực xã hội Việt Nam lúc đó đã tác động trực tiếp đến tư tưởng, tình cảm và hình thành tư tưởng cứu nước, chí hướng cách mạng từ rất sớm ở Nguyễn Tất Thành. Sau này, Người tâm sự: lúc bấy giờ ông cụ thân sinh ra tôi và nhiều người khác thường hỏi nhau rằng ai sẽ là người sẽ đứng ra cứu nước, cứu dân? Có người thì cho là người Nhật, người khác lại cho là người Anh… “Vậy làm thế nào bây giờ? Tôi quyết định tìm cách đi ra nước ngoài”[1].
Trên cơ sở lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, ham muốn tột bậc là làm cho dân tộc được độc lập, nhân dân được tự do, hạnh phúc, mặc dù Người vô cùng kính trọng và khâm phục tinh thần yêu nước, ý chí chiến đấu nhằm khôi phục nền độc lập dân tộc của các sĩ phu yêu nước, nhưng Người vẫn nhận thấy những mặt hạn chế của họ. Phan Bội Châu muốn dựa vào Nhật để đánh Pháp khác nào “đuổi hùm cửa trước, rước sói cửa sau”; Phan Chu Trinh muốn dựa vào chính thực dân Pháp để đánh đổ phong kiến Nam triều và cải cách canh tân đất nước thì “chẳng khác gì đến xin giặc rủ lòng thương”; người anh hùng nông dân áo vải Hoàng Hoa Thám dựng cờ khởi nghĩa gần 30 năm (1885-1913) vẫn còn “nặng cốt cách phong kiến” - vì Ông chủ trương đánh đổ thực dân Pháp nhưng khôi phục lại chế độ phong kiến. Như vậy, nắm bắt được yêu cầu thực tiễn của lịch sử dân tộc, những yếu tố mới của thế giới (qua tìm hiểu trong sách, ở trường và hoạt động cách mạng trong nước trước khi xuất dương), để rồi xác định đúng hướng đi, cách đi và cuối cùng chọn được con đường đi mới, đúng và phù hợp cho công cuộc giành độc lập dân tộc và hạnh phúc cho Nhân dân Việt Nam.
Có khẳng định, sự kiện Nguyễn Tất Thành rời xa quê hương, Tổ quốc vào ngày 05/6/1911 tìm đường cứu nước là kết quả tất yếu của hệ thống động lực thôi thúc. Người đã xác định rõ mục đích cao cả là tìm đường cứu nước, cứu dân, cứu nòi giống khỏi ách áp bức thống trị của thực dân đế quốc và tay sai; chứ không phải là “cuộc phiêu lưu, mạo hiểm, vì miếng cơm, manh áo” như những luận điệu xuyên tạc, phản động đã từng rêu rao. Một nhà sử học người Pháp nghiên cứu về cách mạng Việt Nam đã có nhận xét đúng và thú vị: Khi ông rời Tổ quốc, Nguyễn Ái Quốc không biết rằng Ông đang bằng phương Tây để đi tìm phương Đông của Ông. Ông hy vọng rằng sẽ sớm trở về Việt Nam để truyền bá những điều đã học hỏi được và đấu tranh. Ông sẽ chỉ về 30 năm sau (năm 1941), sau chuyến đi vòng quanh thế giới, Ông đã bắt gặp chủ nghĩa Mác cách mạng thế giới và từ đó sẽ sinh ra một tinh thần dân tộc mới.

Như vậy, với lòng yêu nước, thương dân sâu sắc, ý chí quyết tâm giành độc lập dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân, nhận thức đầy đủ hiện thực xã hội, vận mệnh lịch sử đặt ra đối với dân tộc Việt Nam và những nhân tố mới của thời đại, Nguyễn Tất Thành đã quyết định xuống tàu Latusơ Trêvin, rời cảng Nhà Rồng bắt đầu cuộc hành trình tìm đường cứu nước, cứu dân. Đây là sự quyết định đầy sáng tạo được thúc đẩy bằng tổng hợp các động lực, trở thành nền tảng vững chắc giúp Người vượt qua mọi khó khăn, gian khổ để tìm thấy con đường giải phóng dân tộc đúng đắn, hợp quy luật tất yếu của lịch sử “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”[2].
115 năm đã trôi qua, ngày mùng 5 tháng 6 năm 1911 không chỉ đánh dấu bước ngoặt cuộc đời hoạt động cách mạng của người con ưu tú nhất của dân tộc trong thế kỷ XX, mà còn ghi vào lịch sử dân tộc ta thời khắc chuyển mình phát triển theo hướng mới, được dẫn dắt bởi người anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới - Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh. Ngày nay, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh gắn với thực hiện cuộc vận động “Phát huy truyền thống, cống hiến tài năng, xứng danh Bộ đội Cụ Hồ” và nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, mỗi cán bộ, giảng viên, học viên, nhân viên, chiến sĩ cần học tập tư tưởng, tấm gương cứu nước, cứu dân, yêu nước, thương dân phải dám dấn thân, dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì sự phát triển của cơ quan, đơn vị và Học viện bằng những việc cụ thể hàng ngày trong giảng dạy, học tập, công tác và phục vụ. Đồng thời, phát huy truyền thống 80 năm Học viện Lục quân anh hùng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao, xứng đáng với công lao trời biển của Bác Hồ kính yêu./.
[1] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 1, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2011, tr.461.
[2] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Tập 12, Nxb CTQGST, Hà Nội, 2011, tr.30.





