• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 158
Tháng 08 : 39.386
Tháng trước : 34.958
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tuyên ngôn độc lập năm 1945 - nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho phát triển kinh tế thị trường định hướng Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay

Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại Quảng trường Ba Đình không chỉ là một văn kiện khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Hơn cả một áng hùng văn lập quốc, nó là bản tuyên bố về triết lý phát triển của một dân tộc, đặt định những tọa độ tư tưởng nền tảng, mà 80 năm sau vẫn tỏ rõ sức sống mãnh liệt, trở thành “ADN chính trị” và chiếc la bàn triết học định hướng cho mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn độc lập tại Quảng trường Ba Đình ngày 2-9-1945. (Ảnh tư liệu)

Điểm xuất phát và cũng là đỉnh cao trí tuệ của Bản Tuyên ngôn Độc lập nằm ở sự kế thừa có chọn lọc và phát triển sáng tạo những giá trị tiến bộ của nhân loại. Bằng việc trích dẫn Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ (1776) và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp (1791), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt cuộc cách mạng Việt Nam vào dòng chảy chung của các cuộc cách mạng giải phóng vĩ đại, khẳng định tính chính nghĩa phổ quát cho cuộc đấu tranh của dân tộc.

Tuy nhiên, bước nhảy vọt về tư duy, đóng góp đặc sắc của Hồ Chí Minh, chính là sự phát triển: “Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Luận điểm này không đơn thuần là một phép ngoại suy lôgic, mà là một cuộc cách mạng trong nhận thức, thiết lập một mối quan hệ biện chứng, nhân quả sâu sắc: Quyền con người chỉ có thể được bảo đảm một cách thực chất và đầy đủ khi quyền dân tộc được tôn trọng. Một cá nhân không thể có tự do thực sự nếu dân tộc mình vẫn còn trong xiềng xích nô lệ. Độc lập dân tộc trở thành tiền đề tiên quyết, là không gian sinh tồn cho các quyền cơ bản của con người.

Chính từ nền tảng triết học này, Tuyên ngôn đã xác lập mục tiêu tối thượng của nhà nước kiểu mới không chỉ là “độc lập”, mà phải là “hạnh phúc” cho nhân dân. Câu nói bất hủ của Người, “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”, đã trở thành mệnh lệnh chính trị và kim chỉ nam đạo đức cho mọi chính sách phát triển. Khát vọng về một xã hội “ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành” chính là sự cụ thể hóa của “quyền mưu cầu hạnh phúc” trong Tuyên ngôn. Đây chính là mạch nguồn tư tưởng, là sự khởi nguồn của tính “định hướng xã hội chủ nghĩa” trong mô hình kinh tế của Việt Nam ngày nay. Nền kinh tế thị trường không phải là mục đích tự thân, mà là phương tiện hữu hiệu để hiện thực hóa mục tiêu phát triển vì con người, lấy con người làm trung tâm, làm chủ thể và là mục tiêu của sự phát triển.

Bản Tuyên ngôn Độc lập đã trực tiếp và gián tiếp định hình nên ba trụ cột tư tưởng, ba nguyên tắc kiến tạo nên mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam.

Một là, độc lập, tự chủ - “Xương sống của chủ quyền kinh tế.

Tuyên ngôn đã dành một phần quan trọng để tố cáo tội ác bóc lột kinh tế của thực dân Pháp, vạch trần bản chất của chủ nghĩa thực dân là tước đoạt không chỉ chủ quyền chính trị mà cả chủ quyền kinh tế. Việc giành lại độc lập chính là giành lại quyền tự quyết định vận mệnh kinh tế của đất nước. Tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” không chỉ là bài học của Cách mạng Tháng Tám, mà còn là nguyên tắc cơ bản, quan trọng trong xây dựng kinh tế.

Trong kỷ nguyên toàn cầu hóa, “độc lập, tự chủ” được diễn giải một cách năng động và hiện đại. Đó không phải là đóng cửa, tự cung tự cấp, mà là xây dựng một nền kinh tế có sức chống chịu, có năng lực cạnh tranh nội sinh mạnh mẽ, không bị phụ thuộc một cách bị động vào bất kỳ đối tác hay thị trường nào. Nó đòi hỏi Việt Nam phải chủ động hội nhập, tham gia vào các chuỗi giá trị toàn cầu nhưng với vị thế ngày càng cao hơn, làm chủ công nghệ lõi, xây dựng thương hiệu quốc gia và đảm bảo an ninh kinh tế trong mọi tình huống. Đây chính là sự vận dụng sáng tạo di sản Tuyên ngôn vào bối cảnh mới.

Hai là, lấy con người làm trung tâm - “Trái tim của định hướng xã hội chủ nghĩa.

Nếu độc lập, tự chủ là điều kiện cần, thì mục tiêu “vì con người” chính là điều kiện đủ, là yếu tố quy định bản chất xã hội chủ nghĩa của mô hình kinh tế. Khát vọng về “quyền sung sướng” cho mọi người dân trong Tuyên ngôn đã được thể chế hóa thành nguyên tắc: Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Việt Nam không đi theo con đường “làm giàu trước, giải quyết vấn đề xã hội sau”, mà thực hiện một cách song hành, lồng ghép các mục tiêu xã hội trong từng chính sách phát triển. Cơ chế thị trường được sử dụng để giải phóng sức sản xuất, nhưng Nhà nước, với vai trò điều tiết, sẽ sử dụng các công cụ như chính sách thuế, an sinh xã hội, đầu tư công cho y tế, giáo dục... để phân phối lại thành quả tăng trưởng, rút ngắn khoảng cách giàu nghèo, bảo đảm một “tấm lưới an sinh” cho mọi người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Các chương trình mục tiêu quốc gia về giảm nghèo bền vững, phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số là minh chứng sống động cho cam kết không để ai bị bỏ lại phía sau, một sự hiện thực hóa tư tưởng nhân văn cao cả của Tuyên ngôn.

Ba là, vai trò kiến tạo của Nhà nước “của dân, do dân, vì dân - “Bộ não điều hành và dẫn dắt.

Tuyên ngôn khai sinh ra một nhà nước kiểu mới - nhà nước dân chủ nhân dân. Bản chất của dân, do dân, vì dân quyết định vai trò và chức năng của nhà nước trong nền kinh tế. Trong mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Nhà nước không phải là người làm thay thị trường, mà là nhạc trưởng kiến tạo phát triển. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước định hướng chiến lược, xây dựng thể chế, luật pháp công bằng, minh bạch để thị trường vận hành hiệu quả, đồng thời khắc phục những thất bại, những mặt trái của thị trường (ô nhiễm môi trường, bất bình đẳng xã hội...). Nhà nước sử dụng các nguồn lực chiến lược (đất đai, tài nguyên, doanh nghiệp nhà nước ở các lĩnh vực then chốt) như một công cụ vĩ mô để dẫn dắt, ổn định kinh tế và thực hiện các mục tiêu xã hội. Vai trò này đảm bảo rằng các quy luật của thị trường được vận dụng để phục vụ lợi ích chung của quốc gia và đại đa số nhân dân, chứ không phải cho lợi ích của một nhóm thiểu số.

Bước vào thế kỷ XXI, đối mặt với những biến động phức tạp của thế giới, những giá trị của Tuyên ngôn Độc lập không hề cũ đi, trái lại, những giá trị đó càng trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc, soi đường cho tương lai. Ngọn lửa khát vọng về một Việt Nam hùng cường: Khát vọng “sánh vai với các cường quốc năm châu” tiềm ẩn trong Tuyên ngôn ngày nay được cụ thể hóa thành các mục tiêu chiến lược đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Đây chính là động lực tinh thần to lớn, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự lực, tự cường và tinh thần đổi mới sáng tạo trong toàn dân tộc. Nền tảng của chính sách ngoại giao “cây tre Việt Nam”, tinh thần độc lập, tự chủ, bình đẳng giữa các dân tộc trong Tuyên ngôn là gốc rễ của đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa hiện nay. Giúp Việt Nam giữ vững nguyên tắc trong khi ứng xử linh hoạt, tạo dựng một môi trường quốc tế hòa bình, ổn định để tập trung phát triển kinh tế.

Như vậy, Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là một di sản tư tưởng vô giá. Những nguyên lý cơ bản về mối quan hệ giữa quyền dân tộc và quyền con người, về mục tiêu phát triển vì hạnh phúc nhân dân, về độc lập tự chủ và vai trò của nhà nước nhân dân đã và đang được vận dụng sáng tạo, trở thành nền tảng lý luận vững chắc cho mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Kế thừa và phát triển di sản này chính là con đường để Việt Nam tiếp tục vững bước, hiện thực hóa những giá trị bất hủ mà Tuyên ngôn đã long trọng công bố trước toàn thế giới: Độc lập - Tự do - Hạnh phúc./.


Tác giả: KMLNTTHCM. Trần Ngọc Thùy
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?