• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Giáo dục chính trị
Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 78
Tháng 09 : 19.861
Tháng trước : 19.246
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Phương pháp nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh và giá trị vận dụng trong giảng dạy học phần kinh tế chính trị ở Học viện Lục quân hiện nay

Phương pháp nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa tư duy khoa học, tính thực tiễn và nghệ thuật diễn đạt, nổi bật ở yêu cầu đúng, rõ, ngắn gọn, dễ hiểu, thiết thực và phù hợp với đối tượng. Những giá trị đó có ý nghĩa quan trọng đối với đổi mới phương pháp giảng dạy học phần Kinh tế chính trị ở Học viện Lục quân. Vận dụng phương pháp nói, viết của Người đòi hỏi giảng viên phải xác định đúng trọng tâm nội dung, lựa chọn cách diễn đạt phù hợp, tăng cường liên hệ thực tiễn kinh tế - xã hội, quân sự và quốc phòng; phát huy tính tích cực, chủ động, tư duy độc lập của học viên; kết hợp linh hoạt phương pháp truyền thống với phương tiện dạy học hiện đại.

Những nội dung cơ bản trong phương pháp nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Xác định đúng nội dung, đối tượng, mục đích trước khi nói và viết. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi xác định đúng nội dung, đối tượng và mục đích là cơ sở để lựa chọn cách nói, cách viết phù hợp và đạt hiệu quả. Người luôn đặt ra những câu hỏi trước khi diễn đạt: “Nói, viết cái gì? Nói, viết cho ai? Nói, viết để làm gì?”; từ đó mới xác định “Nói, viết như thế nào?”. Người căn dặn: “Bao giờ cũng phải tự hỏi: “Ta viết cho ai xem? Nói cho ai nghe?” [1]. Theo Người, “cái gì”, “cho ai”, “để làm gì” có quan hệ chặt chẽ và quyết định “như thế nào”. Vì vậy, nói và viết không thể tùy tiện, chung chung mà phải đúng vấn đề cần truyền đạt, đúng đối tượng tiếp nhận và đúng mục đích đặt ra. Xác định rõ những yếu tố này giúp người nói, người viết lựa chọn được nội dung thiết yếu, cách diễn đạt phù hợp, tránh tình trạng nói, viết xa rời đối tượng, không đúng trọng tâm hoặc không đạt được mục tiêu truyền đạt. Đây là điểm xuất phát quan trọng trong phương pháp diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh, thể hiện tư duy khoa học, có chủ đích và luôn hướng tới hiệu quả thực tiễn.

Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm lớp học của công nhân Nhà máy 1/5 (Hà Nội), ngày 19/12/1963

Nói, viết phải chân thực, chính xác, có căn cứ. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi chân thực, chính xác và có căn cứ là yêu cầu cơ bản trong phương pháp nói, viết. Trong tác phẩm Sửa đổi lối làm việc, Người phê phán bệnh “ba hoa”, trong đó có biểu hiện “báo cáo lông bông”, “lụp chụp, cẩu thả”, nói và viết khi chưa nắm chắc vấn đề. Người chỉ rõ: “Chưa điều tra, chưa nghiên cứu, chưa biết rõ, chớ nói, chớ viết” [2]; đồng thời yêu cầu “Trước khi nói, phải nghĩ cho chín, phải sắp đặt cẩn thận... Sau khi viết rồi, phải xem đi xem lại ba, bốn lần. Nếu là một tài liệu quan trọng, phải xem đi xem lại chín, mười lần” [3]. Đối với viết, Người căn dặn phải viết phải đúng sự thật. Không được bịa ra. Những chỉ dẫn đó cho thấy, nói và viết theo Chủ tịch Hồ Chí Minh phải xuất phát từ sự thật khách quan, dựa trên điều tra, nghiên cứu và những căn cứ xác đáng; không được suy diễn, phóng đại, thêm bớt hoặc phát biểu tùy tiện. Chân thực còn gắn với trách nhiệm của người nói, người viết đối với nội dung mình truyền đạt. Vì vậy, Người yêu cầu phải biết rõ mới nói, nghiên cứu kỹ mới viết và luôn kiểm tra, xem xét lại nội dung trước khi công bố.

Nói, viết ngắn gọn nhưng phải đầy đủ nội dung, có trọng tâm. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi ngắn gọn, cô đọng, đầy đủ và có trọng tâm là yêu cầu quan trọng trong phương pháp nói, viết. Người phê phán “Viết dài mà rỗng, thì không tốt. Viết ngắn mà rỗng, cũng không hay” [4], đồng thời chỉ rõ: “Viết và nói cố nhiên phải vắn tắt. Song trước hết phải có nội dung” [5]. Theo Người, ngắn gọn không có nghĩa là giản lược, sơ sài hoặc làm nghèo nội dung, mà phải biết chọn lọc cái cốt lõi, tập trung vào vấn đề chủ yếu, loại bỏ những lời lẽ rườm rà, không cần thiết. Người yêu cầu cách nói, cách viết phải “thiết thực”, “thấm thía”, giúp người nghe, người đọc dễ hiểu, dễ nhớ và nắm được điều cần thiết. Vì vậy, nói và viết phải được chuẩn bị kỹ, xác định rõ vấn đề trọng tâm, sắp xếp nội dung hợp lý, diễn đạt cô đọng nhưng vẫn bảo đảm tính đầy đủ, chính xác của vấn đề. Ngắn gọn về câu chữ nhưng không ngắn về tư tưởng; cô đọng về hình thức nhưng phải đầy đủ về nội dung chính là đặc điểm nổi bật trong phương pháp diễn đạt của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người không chạy theo số lượng lời nói, câu chữ mà chú trọng hiệu quả truyền đạt, làm cho mỗi lời nói, mỗi bài viết đều chứa đựng nội dung thiết thực và có sức thuyết phục.

Giản dị, trong sáng, dễ hiểu nhưng không đơn giản hóa lý luận. Chủ tịch Hồ Chí Minh coi giản dị, trong sáng, dễ hiểu là một yêu cầu quan trọng trong phương pháp nói, viết, nhưng sự giản dị ấy luôn gắn với tính chính xác, sâu sắc và chặt chẽ của nội dung lý luận. Người cho rằng cách diễn đạt phải phù hợp với trình độ nhận thức của người nghe, người đọc, sử dụng ngôn ngữ gần gũi, những từ ngữ quen thuộc và cách trình bày rõ ràng, tránh dùng những lời lẽ cầu kỳ, khó hiểu. Người căn dặn: “Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu” [6]; đồng thời yêu cầu “Khi viết, khi nói, phải luôn luôn làm thế nào cho ai cũng hiểu được” [7]. Tuy nhiên, giản dị trong cách diễn đạt không có nghĩa là giản đơn hóa hoặc làm giảm chiều sâu của vấn đề. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chú trọng diễn đạt những vấn đề lý luận sâu sắc bằng hình thức trong sáng, gần gũi, giúp người đọc, người nghe dễ tiếp nhận mà vẫn bảo đảm bản chất khoa học của nội dung. Vì vậy, phương pháp nói, viết của Người là sự thống nhất giữa tư tưởng sâu sắc với ngôn ngữ giản dị, nội dung khoa học với cách diễn đạt trong sáng, dễ hiểu, qua đó làm cho những vấn đề phức tạp trở nên gần gũi, thiết thực và có sức thuyết phục.

Gắn lời nói, bài viết với thực tiễn và hướng đến hành động. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi thực tiễn là cơ sở và mục đích của lời nói, bài viết, vì vậy nội dung diễn đạt phải xuất phát từ thực tế, phản ánh đúng thực tế và hướng dẫn con người hành động trong thực tế. Người phê phán cách nói, cách viết xa rời thực tiễn đời sống, chỉ nêu lý luận chung chung mà không gắn với những vấn đề cụ thể của quần chúng. Người yêu cầu người tuyên truyền phải “điều tra, nghiên cứu, hiểu biết quần chúng”, đồng thời nhấn mạnh “Phải luôn luôn dùng những lời lẽ, những thí dụ giản đơn, thiết thực và dễ hiểu” [8]. Theo Người, nói và viết không chỉ nhằm truyền đạt nhận thức mà phải làm cho người nghe, người đọc hiểu đúng, tin tưởng và biến nhận thức thành hành động thực tiễn. Người chỉ rõ: “Làm sao cho quần chúng đều hiểu, đều tin, đều quyết tâm theo lời kêu gọi của mình” [9]. Vì vậy, phương pháp nói, viết của Hồ Chí Minh luôn thống nhất giữa lý luận với thực tiễn, nhận thức với hành động, lấy những vấn đề thực tế làm điểm xuất phát và hướng tới giải quyết những yêu cầu cụ thể của cuộc sống. Giá trị của lời nói, bài viết không chỉ ở nội dung đúng đắn mà còn ở khả năng tác động đến nhận thức, tình cảm và hành động của con người, góp phần đưa tư tưởng, đường lối vào thực tiễn.

Vận dụng phương pháp nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giảng dạy học phần Kinh tế chính trị ở Học viện Lục quân hiện nay

Định hướng đổi mới cách xác định mục tiêu và thiết kế bài giảng. Vận dụng phương pháp nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đòi hỏi giảng viên giảng dạy học phần Kinh tế chính trị phải đổi mới cách xác định mục tiêu và thiết kế bài giảng theo hướng rõ nội dung, đúng đối tượng, sát mục đích và hướng vào hiệu quả nhận thức, hành động của người học. Mục tiêu bài giảng không nên dừng ở việc truyền đạt, ghi nhớ các khái niệm, phạm trù, quy luật kinh tế chính trị, mà phải xác định rõ sau bài học, học viên hiểu vấn đề gì, lý giải được hiện tượng kinh tế nào, vận dụng được nguyên lý nào và hình thành năng lực nhận định, xử lý vấn đề thực tiễn ra sao. Từ mục tiêu đó, thiết kế bài giảng cần lựa chọn những nội dung cốt lõi, có tính hệ thống, loại bỏ sự dàn trải, trùng lặp; tổ chức các luận điểm theo mạch logic từ lý luận đến thực tiễn, từ khái quát đến cụ thể, từ nhận thức đến vận dụng. Cách thiết kế cũng cần chú trọng lựa chọn ngôn ngữ, ví dụ, số liệu phù hợp với trình độ nhận thức, kinh nghiệm thực tiễn và đặc điểm đối tượng học viên ở Học viện Lục quân, bảo đảm những vấn đề lý luận kinh tế chính trị được trình bày sâu sắc nhưng dễ tiếp nhận, dễ hiểu và dễ vận dụng. Qua đó, bài giảng không chỉ bảo đảm tính khoa học, chính xác của tri thức mà còn tăng tính thiết thực, khả năng thuyết phục và sức lan tỏa của nội dung giảng dạy.

Đổi mới cách diễn đạt theo hướng “ngắn gọn - rõ ràng - dễ hiểu - sâu sắc”. Giảng viên giảng dạy học phần Kinh tế chính trị cần đổi mới cách diễn đạt theo hướng ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu nhưng vẫn bảo đảm chiều sâu khoa học và tính chặt chẽ của lý luận. Trong giảng dạy, cần tránh lối trình bày nặng về thuật ngữ, câu chữ dài dòng, diễn giải nhiều nhưng chưa làm nổi bật bản chất của vấn đề. Mỗi nội dung cần được diễn đạt bằng những luận điểm cô đọng, xác định rõ vấn đề trung tâm, quan hệ bản chất và ý nghĩa của nó; những khái niệm, phạm trù kinh tế chính trị cần được giải thích bằng ngôn ngữ trong sáng, chính xác, kết hợp với ví dụ và tình huống thực tiễn để học viên dễ tiếp nhận. Tuy nhiên, dễ hiểu không đồng nghĩa với đơn giản hóa lý luận; những vấn đề có tính khái quát, trừu tượng vẫn phải được phân tích đầy đủ về nội hàm, bản chất và mối quan hệ, tránh diễn giải giản đơn hoặc làm sai lệch nội dung khoa học. Giảng viên cần biết “nói ít nhưng nói đúng, nói trúng và nói sâu”, sử dụng câu chữ như phương tiện làm sáng rõ tư tưởng chứ không làm lu mờ nội dung. Qua đó, bài giảng Kinh tế chính trị vừa giảm tính khô cứng, trừu tượng, vừa giữ vững tính khoa học, hệ thống và chiều sâu lý luận, giúp học viên hiểu nhanh, nhớ lâu, nắm chắc bản chất và có khả năng vận dụng vào nhận thức, giải quyết những vấn đề thực tiễn.

Tăng cường đưa thực tiễn kinh tế - xã hội và thực tiễn quân sự, quốc phòng vào bài giảng. Giảng viên Kinh tế chính trị cần gắn chặt nội dung lý luận với thực tiễn kinh tế - xã hội và thực tiễn quân sự, quốc phòng, làm cho những khái niệm, phạm trù và quy luật kinh tế trở nên cụ thể, sinh động, có sức thuyết phục. Lựa chọn thực tiễn phải bảo đảm đúng nội dung, tiêu biểu, có tính điển hình và phù hợp với đối tượng học viên, tránh đưa dẫn chứng tràn lan hoặc minh họa đơn thuần mà chưa làm rõ bản chất lý luận. Các vấn đề như quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, sở hữu, phân phối, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế… gắn với củng cố quốc phòng, an ninh có thể được phân tích thông qua những thành tựu, hạn chế và vấn đề đặt ra trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, địa phương, cũng như thực tiễn xây dựng Quân đội, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và bảo đảm hậu cần, kỹ thuật cho nhiệm vụ quân sự, quốc phòng. Quan trọng hơn, thực tiễn phải được sử dụng như cơ sở để kiểm chứng, làm sâu sắc và phát triển nhận thức lý luận, giúp học viên không chỉ “biết” khái niệm mà còn hiểu vì sao vấn đề đó nảy sinh, bản chất kinh tế của nó là gì và cần vận dụng lý luận như thế nào để giải quyết. Qua đó, bài giảng Kinh tế chính trị tăng tính thực tiễn, tính thuyết phục và khả năng định hướng nhận thức, tư duy kinh tế cho học viên.

Chuyển từ phương pháp truyền đạt một chiều sang tổ chức đối thoại, gợi mở và phát huy tư duy của người học. Giảng viên giảng dạy học phần Kinh tế chính trị cần chuyển mạnh từ truyền đạt kiến thức theo một chiều sang tổ chức đối thoại, gợi mở và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Trong quá trình giảng dạy, thay vì trình bày toàn bộ nội dung theo cách có sẵn, giảng viên cần đặt ra những câu hỏi có vấn đề, tình huống thực tiễn và những gợi ý có nhiều cách tiếp cận để học viên suy nghĩ, trao đổi, tranh luận và tự tìm kiếm lời giải trên cơ sở lý luận. Câu hỏi phải hướng vào bản chất, mối quan hệ và nguyên nhân của vấn đề, tránh chỉ yêu cầu học viên nhắc lại kiến thức đã được cung cấp. Giảng viên giữ vai trò định hướng, dẫn dắt, gợi mở và khái quát hóa kết quả trao đổi; kịp thời điều chỉnh những nhận thức chưa đầy đủ, đồng thời tôn trọng những cách tiếp cận hợp lý của người học. Qua đối thoại, giảng viên không chỉ truyền đạt tri thức mà còn tạo môi trường để học viên tự suy nghĩ, tự lý giải, biết đặt câu hỏi và bảo vệ quan điểm bằng lập luận khoa học. Cách thức này phù hợp với tinh thần Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc phát huy tính chủ động của quần chúng, làm cho người học hiểu, tin và biến nhận thức thành hành động, qua đó góp phần phát triển tư duy lý luận, năng lực phân tích và khả năng vận dụng kiến thức Kinh tế chính trị vào thực tiễn.

Kết hợp chặt chẽ giữa lời nói, chữ viết, hình ảnh và phương tiện số. Vận dụng phương pháp nói, viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong điều kiện hiện nay đòi hỏi giảng viên giảng dạy học phần Kinh tế chính trị phải kết hợp linh hoạt giữa lời nói, chữ viết, hình ảnh và các phương tiện số, tạo sự thống nhất giữa nội dung, hình thức và phương thức truyền đạt. Lời nói cần giữ vai trò thuyết minh, phân tích và làm rõ những vấn đề cốt lõi; chữ viết giúp hệ thống hóa khái niệm, luận điểm, quy luật và những nội dung cần ghi nhớ; hình ảnh, sơ đồ, biểu đồ, video và tình huống trực quan giúp cụ thể hóa những vấn đề có tính khái quát, trừu tượng; các phương tiện số như bài giảng điện tử, học liệu số tạo điều kiện mở rộng không gian tiếp nhận, trao đổi và khai thác thông tin. Tuy nhiên, việc sử dụng nhiều phương tiện không phải để làm bài giảng trở nên cầu kỳ mà phải phục vụ trực tiếp cho mục tiêu làm rõ nội dung, tăng khả năng nhận thức và ghi nhớ của người học. Mỗi hình ảnh, sơ đồ, số liệu hay phương tiện số được lựa chọn phải có giá trị thông tin, có mối liên hệ với luận điểm đang phân tích và tránh tình trạng lạm dụng kỹ thuật làm phân tán sự chú ý. Qua đó, bài giảng Kinh tế chính trị có thể phát huy ưu thế của nhiều kênh truyền đạt, làm cho nội dung rõ hơn, sinh động hơn, dễ tiếp nhận hơn nhưng vẫn bảo đảm tính khoa học, chiều sâu và tính hệ thống của lý luận.

Chú trọng kiểm tra, tự sửa và hoàn thiện bài giảng. Giảng viên giảng dạy học phần Kinh tế chính trị cần coi kiểm tra, tự phê bình, tự sửa chữa và hoàn thiện bài giảng là khâu thường xuyên trong quá trình chuẩn bị và thực hiện giảng dạy. Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ yêu cầu nói, viết phải có nội dung, chính xác, dễ hiểu mà còn đặc biệt coi trọng việc xem xét, kiểm tra lại những điều đã nói, đã viết, kịp thời phát hiện những nội dung chưa chính xác, chưa phù hợp để sửa chữa. Từ tinh thần đó, giảng viên cần chủ động rà soát bài giảng trước, trong và sau mỗi lần thực hiện; kiểm tra tính chính xác của khái niệm, số liệu, dẫn chứng, sự phù hợp giữa mục tiêu với nội dung, giữa nội dung với đối tượng và phương pháp truyền đạt. Những phần còn dài dòng, trùng lặp, khó hiểu, thiếu căn cứ hoặc chưa gắn với thực tiễn cần được loại bỏ, điều chỉnh và bổ sung. Sau mỗi bài giảng, cần tiếp thu ý kiến phản hồi của học viên, đồng nghiệp và kết quả học tập để tự đánh giá mức độ đạt mục tiêu, nhận diện hạn chế và tiếp tục hoàn thiện. Quá trình này phải được thực hiện liên tục, bởi bài giảng không phải sản phẩm bất biến mà cần được cập nhật theo sự phát triển của lý luận, thực tiễn kinh tế - xã hội, quân sự, quốc phòng và yêu cầu đào tạo. Qua đó, nâng cao tính chính xác, thiết thực, khoa học và sức thuyết phục của bài giảng Kinh tế chính trị.

Một số yêu cầu đặt ra đối với giảng viên giảng dạy học phần Kinh tế chính trị ở Học viện Lục quân

Một là, giảng viên phải thực sự nắm chắc lý luận và có vốn thực tiễn phong phú. Giảng viên phải nắm vững lý luận, hiểu sâu bản chất các nguyên lý, phạm trù, quy luật của Kinh tế chính trị, đồng thời thường xuyên cập nhật thực tiễn kinh tế - xã hội, quân sự, quốc phòng. Nền tảng lý luận vững chắc giúp giảng viên diễn đạt ngắn gọn nhưng không giản đơn hóa, dễ hiểu nhưng vẫn bảo đảm chiều sâu khoa học; vốn thực tiễn phong phú giúp lựa chọn dẫn chứng chính xác, tiêu biểu, thiết thực để làm sáng rõ nội dung lý luận. Qua đó, giảng viên có khả năng kết hợp nhuần nhuyễn lý luận với thực tiễn, kiến thức với phương pháp diễn đạt, nâng cao tính khoa học, thuyết phục và hiệu quả của bài giảng.

Hai là, phải lấy người học và mục tiêu đào tạo làm căn cứ lựa chọn phương pháp diễn đạt. Giảng viên phải nắm chắc đặc điểm đối tượng, trình độ nhận thức và yêu cầu mục tiêu đào tạo để lựa chọn nội dung, ngôn ngữ và cách thức diễn đạt phù hợp. Đối với học viên ở Học viện Lục quân, cần chú trọng những vấn đề gắn với chức trách, nhiệm vụ, thực tiễn chỉ huy, quản lý và xây dựng đơn vị để tăng tính thiết thực của bài giảng. Cách diễn đạt phải ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu nhưng không giản đơn hóa lý luận, lựa chọn dẫn chứng và tình huống phù hợp với nhận thức của người học. Mục tiêu cuối cùng không chỉ giúp học viên nắm kiến thức mà còn hình thành tư duy kinh tế, năng lực phân tích và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn, qua đó bảo đảm phương pháp nói, viết thực sự phục vụ mục tiêu đào tạo.

Ba là, bài giảng phải bảo đảm thống nhất giữa tính khoa học, tính Đảng và tính thực tiễn. Tính khoa học đòi hỏi bài giảng chính xác về khái niệm, luận điểm, quy luật, có lập luận chặt chẽ và căn cứ xác đáng; tính Đảng đòi hỏi kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng; tính thực tiễn đòi hỏi nội dung được liên hệ với những vấn đề đang đặt ra trong đời sống kinh tế - xã hội, quân sự, quốc phòng. Ba yếu tố này phải gắn bó chặt chẽ, bổ sung và thống nhất với nhau, tránh tuyệt đối hóa một mặt hoặc tách rời lý luận với thực tiễn.

Bốn là, giảng viên phải kiên quyết phải khắc phục bệnh nói dài, viết dài, nói chung chung và diễn đạt nặng về thuật ngữ. Nội dung bài giảng cần được chắt lọc, xác định rõ vấn đề cốt lõi, diễn đạt bằng ngôn ngữ trong sáng, chính xác, dễ hiểu, hạn chế những câu chữ rườm rà và thuật ngữ không cần thiết. Đối với những khái niệm, phạm trù có tính trừu tượng của Kinh tế chính trị, cần giải thích đúng bản chất, sử dụng ví dụ và dẫn chứng phù hợp để làm rõ nội dung, không đơn giản hóa lý luận nhưng cũng không làm cho lý luận trở nên xa lạ, khó tiếp cận. Mỗi luận điểm phải có trọng tâm, mỗi dẫn chứng phải phục vụ trực tiếp cho nội dung cần làm rõ, tránh tình trạng nói nhiều nhưng người học không nắm được vấn đề chủ yếu.

Năm là, phải coi hiệu quả nhận thức và khả năng vận dụng của người học là thước đo quan trọng của phương pháp giảng dạy. Giá trị của bài giảng không chỉ thể hiện ở lượng kiến thức được truyền đạt hay mức độ hoàn chỉnh của nội dung, mà quan trọng hơn là học viên có hiểu, nhớ, biết phân tích và vận dụng được những vấn đề đã học hay không. Vì vậy, giảng viên cần thường xuyên quan sát phản hồi của người học, kiểm tra mức độ tiếp thu, khả năng giải thích vấn đề và vận dụng lý luận vào những tình huống thực tiễn. Những nội dung học viên còn khó hiểu, chưa nắm chắc hoặc chưa vận dụng được phải được kịp thời điều chỉnh về cách diễn đạt, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

[1], [2], [3], [6], [7], [8], [9]. Hồ Chí Minh toàn tập (2011), tập 5, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 345-346.

[4], [5]. Hồ Chí Minh toàn tập (1995), tập 5, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.299.

T.V.S


Tác giả: KMLNTTHCM. Trần Viết Sung
Tổng số điểm của bài viết là: 2 trong 1 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?