• :
  • :
Học viện Lục quân: "Kiên định vững vàng - Đoàn kết nhất trí - Chủ động sáng tạo - Khắc phục khó khăn - Hoàn thành nhiệm vụ"
Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Học tập và làm theo TT, ĐĐ, PC HCM

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Phòng, chống diễn biến hòa bình

Giáo dục chính trị
Tìm kiếm

Tìm kiếm

Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 82
Tháng 09 : 49.030
Tháng trước : 37.544
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Bài học sáng tạo về tập hợp lực lượng trong Cách mạng Tháng tám của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Tư tưởng chiến lược về mặt trận dân tộc thống nhất, về đại đoàn kết dân tộc đã được Nguyễn Ái Quốc đặt ra trong toàn bộ tiến trình cách mạng. Bởi theo Người, để tiến hành cách mạng giải phóng dân tộc phải huy động được sự tham gia của tuyệt đại bộ phận các thành phần trong cộng đồng dân tộc. Đồng thời, cần tranh thủ sự hỗ trợ, giúp đỡ của các lực lượng tiến bộ trên thế giới đối với cách mạng Việt Nam. Đây là quan điểm sáng tạo trong tập hợp lực lượng cách mạng của Người, định hướng xuyên suốt tiến trình cách mạng, có tính chất quyết định tới thành bại của Cách mạng Tháng Tám năm 1945.

Tháng 2 năm 1930, các văn kiện do đồng chí Nguyễn Ái Quốc soạn thảo được thông qua tại Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, ngoài sự tương đồng, còn có những điểm sáng tạo giữa Nguyễn Ái Quốc với Quốc tế Cộng sản. 

Đại hội VI Quốc tế Cộng sản (9/1928) đánh giá giai cấp tư sản dân tộc có phần tả khuynh; chủ trương nhiệm vụ trước mắt của cách mạng Đông Dương là giải phóng dân tộc khỏi ách thống trị và áp bức của chủ nghĩa đế quốc, giành độc lập dân tộc; đồng thời, tiến hành cách mạng điền địa triệt để không thỏa hiệp, xóa bỏ mọi quan hệ và tàn tích phong kiến; coi toàn bộ địa chủ, phong kiến, phú nông, kỳ hào, tư sản dân tộc là đồng minh của bọn đế quốc; triệt để tiêu diệt địa chủ với tính cách là một giai cấp, không cần phân biệt tốt hay xấu.

Sự vận dụng sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc thể hiện ở việc đặt nhiệm vụ cách mạng giải phóng dân tộc lên hàng đầu, chĩa mũi nhọn cách mạng vào kẻ thù chủ yếu là đế quốc và tay sai, tập trung đánh đổ đế quốc, nhiệm vụ chống phong kiến thực hiện từng bước, trước hết chống đại địa chủ. Về lực lượng cách mạng, bên cạnh việc khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân, lực lượng nòng cốt của liên minh công - nông, Người cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông. Đối với phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản dân tộc thì phải tranh thủ hoặc ít ra là làm cho họ đứng trung lập. Trong toàn bộ quá trình cách mạng, phải tận dụng và trung lập những phần tử “ưu tú” nhất của tầng lớp tư sản và tiểu tư sản, không để phong trào cách mạng bị họ lợi dụng và tác động.

Sự sáng tạo của Nguyễn Ái Quốc đã được lịch sử chứng minh tính đúng đắn. Tại Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (7/1935) những hạn chế về lý luận cách mạng thuộc địa đã được khắc phục. Đại hội VII chỉ ra rằng đối với phần lớn các thuộc địa và nửa thuộc địa, bước đầu tiên của cách mạng tất yếu là giai đoạn đấu tranh chống bọn đế quốc áp bức để giải phóng dân tộc; hướng cho các đảng cộng sản ở các nước thuộc địa và nửa thuộc địa thực hiện đường lối tập hợp vào mặt trận thống nhất tất cả những ai có khả năng chống đế quốc, trong đó có cả tư sản dân tộc. Tuy nhiên, những vấn đề cụ thể như hình thức, nội dung, phương pháp hoạt động của mặt trận thì Quốc tế Cộng sản chưa nêu ra được. 

Trong thời kỳ 1939 - 1945, Đảng ta đã thành lập các mặt trận: Mặt trận dân tộc thống nhất phản đế Đông Dương, Mặt trận thống nhất dân tộc chống phát xít Pháp - Nhật ở Đông Dương. Đặc biệt, ngày 19/5/1941, theo sáng kiến của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Mặt trận Việt Minh ra đời với quyết tâm “làm cho nước Việt Nam được hoàn toàn độc lập, làm cho dân Việt Nam được sung sướng, tự do”. Mặt trận Việt Minh đã giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc, tập hợp đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc. 

Các tổ chức đoàn thể cứu quốc (thành viên của Mặt trận Việt Minh) như: Nông dân cứu quốc, Công nhân cứu quốc, Thanh niên cứu quốc, Phụ nữ cứu quốc, Phụ lão cứu quốc, Văn hóa cứu quốc... đã thu hút được đông đảo các tầng lớp quần chúng tham gia, đấu tranh dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Những hoạt động của các tổ chức cứu quốc ngày càng sôi nổi và táo bạo, gây tiếng vang rộng rãi trong quần chúng, đưa khí thế cách mạng dâng cao; phát triển rộng khắp trên các địa bàn, tạo nên những chuyển biến mạnh mẽ trong phong trào cách mạng thời kỳ tiền khởi nghĩa. Lực lượng địch từng bước bị cô lập, công chức, binh lính, cảnh sát trong chính quyền bù nhìn hoang mang, dao động, một bộ phận đã ngả theo cách mạng.

Thông qua phong trào Việt Minh, dù số lượng cán bộ đảng viên trong những năm đó chưa nhiều, nhưng Đảng đã lãnh đạo phong trào cách mạng phát triển trên hầu khắp các miền của Tổ quốc. Mặt trận Việt Minh chính là cầu nối giữa Đảng với nhân dân, làm cho “ý Đảng thấm tới lòng dân”; tạo thời cơ phát động cuộc Tổng khởi nghĩa trong cả nước. Đảng ta đã xây dựng được một lực lượng chính trị quần chúng mạnh mẽ, được rèn luyện qua nhiều phong trào cách mạng. Đồng thời, xây dựng những khu căn cứ địa cách mạng, các đội du kích và hình thành lực lượng vũ trang cách mạng.

Ngay trong thời kỳ vận động thành lập Đảng, Hồ Chí Minh đã quan tâm đào tạo cán bộ quân sự, nghiên cứu lý luận quân sự, đặt nền móng cho sự ra đời của lực lượng vũ trang cách mạng. Tiếp thu có chọn lọc những nội dung tích cực, những tinh hoa tri thức quân sự thế giới, Người đã biên soạn nhiều tài liệu huấn luyện cán bộ quân sự, tiêu biểu là “Chiến thuật du kích”. Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Nguyễn Ái Quốc, trong những năm 1941 - 1944, những đội du kích, đội tự vệ, đội cứu quốc quân được xây dựng, củng cố ở nhiều xã, huyện. Cuối năm 1944, Người ra chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân; xác định rõ nguyên tắc tổ chức, phương thức hoạt động và phương châm tác chiến của lực lượng vũ trang. Tới tháng 5/1945, Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân và các tổ chức vũ trang cách mạng khác được thống nhất thành Việt Nam giải phóng quân. Đồng thời, lực lượng bán vũ trang gồm các đội du kích, tự vệ và tự vệ chiến đấu được xây dựng ngày càng rộng khắp. Đây là những lực lượng nòng cốt hỗ trợ cho phong trào đấu tranh cách mạng của quần chúng đang dâng cao. 

Sau khi về nước, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, với nhãn quan chính trị mẫn tiệp, Người đã có những nhận định mới về tình hình thế giới và đề ra sách lược đối ngoại mới cho cách mạng Việt Nam. Hồ Chí Minh luôn chú ý việc mở rộng cánh cửa để cách mạng Việt Nam trở thành một bộ phận của cách mạng thế giới, để cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam là một bộ phận trong cuộc đấu tranh của nhân loại tiến bộ vì hòa bình và những giá trị nhân đạo. Điều này có ý nghĩa to lớn đối với cách mạng Việt Nam và đã được Người thực hiện bằng tất cả sự nỗ lực với những kết quả đáng kể. Theo đó, nhân dân Việt Nam đã đoàn kết với nhân dân Liên Xô, Trung Quốc, giai cấp vô sản và các dân tộc bị áp bức trên thế giới để đánh tan kẻ thù chung là phát xít, bảo vệ hòa bình. Người cũng là đầu mối trực tiếp trong nhiều mối quan hệ với các nước Đồng minh, để cách mạng Việt Nam nhận được những sự cổ vũ, ủng hộ, giúp đỡ cả về tinh thần và vật chất cho công cuộc kháng Nhật, cứu nước; tạo ra những tiền đề cho việc xác lập vị thế của nước Việt Nam độc lập trên trường quốc tế sau này.

Khi thời cơ lịch sử xuất hiện, Hồ Chí Minh hạ quyết tâm cho toàn Đảng, toàn dân: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới. Dù phải hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Đảng ta đã phát động quần chúng tiến hành cuộc khởi nghĩa giành chính quyền. Lực lượng cách mạng tổng hợp - bao gồm lực lượng chính trị, lực lượng vũ trang, lực lượng lãnh đạo, lực lượng quần chúng đã kết hợp chặt chẽ với nhau, tạo thành sức mạnh to lớn của khởi nghĩa toàn dần đè bẹp mọi sự phản kháng của kẻ thù, lật đổ ách thống trị của đế quốc, phong kiến. Chỉ trong ngày 19/8/1945, chính quyền ở Hà Nội đã hoàn toàn thuộc về tay nhân dân. Và cũng chỉ trong vòng 2 tuần, cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám đã thắng lợi trọn vẹn trên phạm vi cả nước. Lịch sử Việt Nam đã sang một trang mới.

Sự vận dụng đúng đắn, sáng tạo của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh về tập hợp lực lượng cách mạng, thực hiện thành công cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền Tháng Tám năm 1945 góp phần làm phong phú thêm lý luận và thực tiễn về sách lược tập hợp lực lượng cách mạng cho mục tiêu giải phóng dân tộc ở các dân tộc thuộc địa, nửa thuộc địa. 

Ngày nay, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta có cả thời cơ, thuận lợi và khó khăn, thách thức đan xen. Các thế lực thù địch chống phá quyết liệt bằng chiến lược “Diễn biến hòa bình”, với thủ đoạn hết sức thâm độc, nguy hiểm. Chúng lợi dụng các vấn đề “nhân quyền”, “dân tộc”, “tôn giáo” nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với Quân đội và nhân dân; đòi “phi chính trị hóa” Quân đội, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”,... Điều đó đặt ra những yêu cầu mới đối với việc xây dựng khối đại đoàn kết, phát huy sức mạnh toàn dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thấm nhuần sâu sắc bài học về tập hợp lực lượng trong Cách mạng Tháng Tám, trước hết, phải thường xuyên quán triệt sâu sắc quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về công tác vận động quần chúng; nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ, đảng viên về yêu cầu, mục đích, ý nghĩa, tầm quan trọng của việc xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đây là vấn đề sống còn của cách mạng, vì vậy phải đề cao trách nhiệm, tổ chức thực hiện nghiêm túc; từng tổ chức đảng, đảng viên phải không ngừng đổi mới, tự chỉnh đốn theo Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng; tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; khắc phục những biểu hiện tham nhũng, lãng phí, quan liêu xa rời quần chúng nhân dân. Cán bộ, đảng viên phải thường xuyên tu dưỡng đạo đức cách mạng,  giữ vững tính tiền phong, gương mẫu, gắn bó mật thiết với quần chúng, luôn luôn đặt lợi ích của Đảng, của dân tộc lên trên lợi ích của cá nhân, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, sẵn sàng chiến đấu hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân. Kiện toàn tổ chức, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và Mặt trận Tổ quốc từ Trung ương đến cơ sở, tăng cường mối quan hệ giữa Đảng với nhân dân, lấy đoàn kết trong Đảng làm cơ sở để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong tình hình hiện nay, cần kiên định đường lối đổi mới, đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước và hội nhập quốc tế; chăm lo lợi ích thiết thực, chính đáng, hợp pháp của các giai cấp, các tầng lớp nhân dân; nhất là đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng sâu, vùng xa. Giải quyết đúng đắn, hợp lý các mối quan hệ, các lợi ích giữa các bộ phận, giai tầng trong xã hội. Cùng với đó, cần phát hiện, giải quyết kịp thời các mâu thuẫn phát sinh trong các bộ phận dân cư. Bên cạnh đó, cần thực hiện tốt Nghị quyết 36/NQ-TW của Bộ Chính trị về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài, nhằm xây dựng một cộng đồng ổn định, gắn bó với quê hương, đất nước; bởi, đó là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Tiếp tục quán triệt và thực hiện tốt quan điểm của Đảng được nêu trong Nghị quyết Trung ương 8 (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, tạo sức mạnh tổng hợp của các lực lượng, các lĩnh vực: Chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, văn hóa,... và kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, phát huy nội lực là chính kết hợp với ngoại lực để bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Coi trọng xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc; tăng cường giáo dục quốc phòng và an ninh, nâng cao nhận thức của nhân dân về quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và âm mưu, thủ đoạn trong chiến lược “Diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Đồng thời, thực hiện tốt công tác đối ngoại quốc phòng; tranh thủ sự ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 

Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam. Những bài học kinh nghiệm, nhất là bài học về tập hợp lực lượng cách mạng, xây dựng và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc từ cuộc Cách mạng vĩ đại đó còn nguyên giá trị trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay./.

Tài liệu tham khảo:

- Viện Lịch sử quân sự Việt Nam, Cách mạng Tháng Tám 1945, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 2017

H.M.C


Tác giả: PDT. Hồ Mạnh Cường
Nguồn:Học viện Lục quân Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 11 trong 3 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Thông báo mới
Thư viện ảnh
Thăm dò ý kiến
GIAO DIỆN

Bạn thấy giao diện của trang website Học viện Lục quân như thế nào?